Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thân Văn Nhàn và ông Nguyễn Quang Kim.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đặng Đức Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, Tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164B/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P

sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: xóm A, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H và con bà: Nguyễn Thị X; Vợ: Lương Thị L, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2022 (đã chết); Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 13/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

  1. Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1993; Địa chỉ: TDP N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. vắng mặt
  2. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1997; Địa chỉ: TDP N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. vắng mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Lương Thị L, sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P thuê trọ tại tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để đi làm bảo vệ tại Khu công nghiệp Q ở thị xã V. P thường xuyên mua hàng tạp hóa tại cửa hàng T3 "Trường M” do vợ chồng anh Đỗ Văn T, ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm chủ nên quen anh T. Mỗi lần P mua hàng thì đều trả tiền bằng cách chuyển khoản quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T có số tài khoản 9819976688 được mở tại Ngân hàng Q (MB) mang tên chị Nguyễn Thị M dùng để thanh toán tiền. Khi chuyển tiền thành công từ tài khoản Ngân hàng của P sang tài khoản Ngân hàng của chị M thì đưa cho anh T xem giao dịch chuyển khoản thành công nhưng anh T chỉ nhìn thoáng qua, không kiểm tra tài khoản Ngân hàng của chị M đã nhận được tiền hay chưa nhận được. Vào khoảng đầu tháng 3/2024, do thấy anh T có sơ hở trong việc kiểm tra tài khoản Ngân hàng khi khách chuyển khoản nên P nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T bằng cách làm giả giao dịch chuyển khoản tiền Ngân hàng. P lưu lại hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công thật trên điện thoại khi mua hàng tại cửa hàng của anh T trước đó và tải ứng dụng chỉnh sửa hình ảnh “Lumii- Photo Editor” về điện thoại di động nhãn hiệu OPPO dùng để chỉnh sửa thông tin giao dịch chuyển khoản tiền Ngân hàng. Khi cần tiền Phương sẽ dùng ứng dụng chỉnh sửa hình ảnh “Lumii- Photo Editor" chỉnh sửa thông tin số tiền, ngày tháng giao dịch chuyển khoản thật trước đó từ tài khoản Ngân hàng mang tên P mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 có số tài khoản 105876886544 đến tài khoản số 9819976688 mở tại Ngân hàng Q (MB) mang tên chị Nguyễn Thị M thành ngày tháng thực hiện hành vi và số tiền muốn chiếm đoạt của anh T. Để tránh bị nghi ngờ, mỗi lần P chỉ chiếm đoạt một số tiền nhỏ, sau khi chiếm đoạt được tiền, P xóa hình ảnh chuyển khoản về số tiền đã chiếm đoạt. Sau đó, P ra cửa hàng tạp hóa của anh T, nói dối là có việc gia đình cần tiền mặt, bảo anh T đổi cho tiền mặt đưa cho P bằng số tiền đã chỉnh sửa trên giao dịch chuyển khoản làm giả trước đó, còn P sẽ dùng điện thoại di động cài đặt tài khoản Ngân hàng mang tên P giả vờ chuyển khoản trả lại tiền cho anh T qua thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T vào tài khoản Ngân hàng số 9819976688 mở tại Ngân hàng Q (MB) mang tên chị M. Tiếp đến, P mở hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công do P làm giả trước đưa cho anh T xem, để anh T đưa cho tiền mặt. Do tin tưởng P, đồng thời trong thời gian này vợ chồng anh T xích mích với nhau nên anh T không kiểm tra tài khoản của chị M đã nhận được tiền chuyển khoản hay chưa, chỉ nhìn qua hình ảnh chuyển tiền tài khoản P đưa cho xem, nghĩ P đã chuyển khoản nên đưa tiền mặt cho P bằng số tiền chuyển khoản. Bằng phương thức, thủ đoạn như nêu trên, trong các ngày 11/3/2024, 16/3/2024, 17/3/2024, 18/3/2024, 19/3/2024, P đã 07 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 35 phút ngày 11/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đưa cho P 4.000.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 29 phút ngày 16/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 2.500.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đưa cho P 2.500.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ ba: Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 16/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đưa cho P 3.000.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ tư: Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 17/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đưa cho P 4.000.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ năm: Khoảng 08 giờ ngày 18/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đưa cho P 3.000.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ sáu: Khoảng 07 giờ ngày 19/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đã đưa cho P 3.000.000 đồng tiền mặt.

Lần thứ bảy: Khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, P đến cửa hàng của anh T và bảo anh T đổi cho P số tiền 8.000.000 đồng từ tài khoản ra tiền mặt, anh T đồng ý. Sau đó, P dùng điện thoại di động làm giả thao tác quét mã QR treo ở cửa hàng của anh T rồi mở hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản thành công chỉnh sửa từ trước đưa cho anh T xem thì anh T đã đưa cho P 8.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi P bỏ đi khỏi cửa hàng, anh T bảo chị M kiểm tra tài khoản Ngân hàng X1 đã nhận được tiền Phương chuyển chưa. Chị M kiểm tra tài khoản Ngân hàng không thấy nhận được khoản tiền chuyển khoản nào của P nên thông báo lại cho anh T biết.

Khoảng 13 giờ ngày 20/3/2024, P đi ra cửa hàng tạp hóa của anh T để mua đồ thì anh T bảo P là mã chuyển tiền Ngân hàng hôm qua anh T chưa nhận được, bảo P ở lại để anh T kiểm tra lại giao dịch chuyển tiền ngày 19/3/2024 giữa tài khoản của P và tài khoản của chị M. Sau khi kiểm tra, anh T phát hiện P không thực hiện chuyển khoản số tiền Ngân hàng nào đến tài khoản Ngân hàng của chị M nêu trên. Lúc này, P thừa nhận với anh T về việc P chỉnh sửa hình ảnh giao dịch tiền chuyển khoản Ngân hàng để chiếm đoạt số tiền trên của anh T. Sau đó, P tự dùng tài khoản Ngân hàng mang tên P mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 có số tài khoản 105876886544 chuyển trả trước cho anh T số tiền 10.000.000 đồng là tiền lương P vừa nhận được vào tài khoản Ngân hàng của anh T. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của anh T, P đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 20/3/2024, anh Đỗ Văn T có đơn trình báo đến Công an phường N, thị xã V về việc bị P lừa đảo chiếm đoạt tài sản như nêu trên. Cùng ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn P đến Công an phường N, thị xã V đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của anh T đồng thời giao nộp: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO mặt lưng màu hồng, có số IMEI: 867760031976112 bên trong lắp sim số 0365.991.302.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Nguyễn Văn P và gia đình đã bồi thường cho vợ chồng anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị M tổng số tiền 27.500.000 đồng. Hiện anh T, chị M không yêu cầu P bồi thường dân sự.

Kết quả điều tra, xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO thu giữ của P khi đầu thú là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định pháp luật.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 153/CT-VKS ngày 15 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt: Nguyễn Văn P từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến 13/4/2024.
  • Vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Oppo của bị cáo.
  • Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo thấy rõ được trách nhiệm của mình nên đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, việc bồi thường là do các bên hoàn toàn tự nguyện do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
  • Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đảm bảo theo trình tự tố tụng hình sự.
  2. [2] Nguyễn Văn P thường xuyên đến cửa hàng tạp hóa “Trường Mến” của vợ chồng anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị M ở tổ dân phố N, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang mua hàng. Lợi dụng quen biết anh T1 và thấy vợ chồng anh Trường s hở trong việc kiểm tra tài khoản Ngân hàng khi có khách trả tiền mua hàng bằng hình thức chuyển khoản, chỉ nhìn qua, không kiểm tra tài khoản đã nhận được tiền hay chưa nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền. Từ ngày 11/3/2024 đến ngày 19/3/2024, P nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối chỉnh sửa số tiền chuyển khoản muốn chiếm đoạt, ngày chuyển khoản trên hình ảnh giao dịch chuyển khoản thành công khi chuyển trả tiền mua hàng qua tài khoản Ngân hàng tại cửa hàng “Trường M1” trước đó rồi đi đến cửa hàng nói dối anh T1 do có việc, cần tiền mặt, bảo anh T1 đổi tiền mặt cho P rồi P chuyển khoản trả. Anh T1 tin P nói thật và hình ảnh chuyển tiền Ngân hàng P đưa cho là thật, đã không kiểm tra tài khoản Ngân hàng của mình nên đưa tiền mặt nhiều lần cho P. Do nghiệm chơi game không có tiền chơi nên P đã 07 lần chiếm đoạt tổng số tiền 27.500.000 đồng của anh T1 tại cửa hàng “Trường Mến”, cụ thể: Lần thứ nhất: khoảng 11 giờ 35 phút ngày 11/3/2024, chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng. Lần thứ hai: khoảng 09 giờ 29 phút ngày 16/3/2024, chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng. Lần thứ ba: khoảng 12 giờ 35 phút ngày 16/3/2024, chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng. Lần thứ tư: khoảng 07 giờ 20 phút ngày 17/3/2024, chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng. Lần thứ năm: khoảng 08 giờ ngày 18/3/2024, chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng. Lần thứ sáu: khoảng 07 giờ ngày 19/3/2024, chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng. Lần thứ bảy: khoảng 10 giờ ngày 19/3/2024, chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, P đã chi tiêu cá nhân hết. Sau đó, thấy hành vi phạm tội bị phát hiện, P đến Công an đầu thú.
  3. [3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với: thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, Do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn P thực hiện 07 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào các thời điểm khác nhau, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên' quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải, nhận thức được hành vi phạm tội đã ra đầu thú và cùng gia đình bồi thường khắc phục hậu quả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét lượng hình đối với bị cáo. Xong xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần liên tục, táo bạo, liều lĩnh, thể hiện coi thường pháp luật nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội,
  5. [5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm, không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
  6. [6] Xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại Oppo của bị cáo dùng là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  7. [7] Trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo thấy rõ được trách nhiệm của mình nên đã cùng gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 27.500.000 đồng. phía bị hại không có yêu cầu gì khác, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết.
  8. [8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  9. [9] Quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 13/4/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

HỘI THẨM NHÂN DÂNT/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Thân Văn N – Nguyễn Quang Kim VVũ Tân Thịnh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại Tạm gian Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an thị xã Việt Yên;
  • - Chi cục THA DS thị xã Việt Yên;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA- VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger