Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trần Trường; bà Ngô Thị Báu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Mạnh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 177/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1994 (Tên gọi khác: không)

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chưa có vợ và con; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 20 phút, ngày 13/3/2024 tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ tuần tra công an phường Đ kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ: Tại lòng bàn tay trái của S 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 723 ngày 15/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: “Chất bột màu trắng trong 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1147 gam là ma túy Heroine”.

Tại cơ quan điều tra S khai nhận: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 13/3/2024, S đi bộ đến khu vực đường tàu gần cột đồng hồ thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố T tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng tiền ma túy, được 01 gói ma túy Heroine nhỏ bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng. S cầm gói ma túy này ở lòng bàn tay trái và đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, khi S đang đi bộ gần đến cột đồng hồ thuộc khu phố T, phường Đ thì bị lực lượng Công an phường Đ bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Ngoài ra, tối ngày 12/3/2024, tại phường Đ, thành phố T, S mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không quen biết và đã sử dụng hết.

Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSTS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc S thừa nhận có cất giữ 01 gói nhỏ ngoài bằng lớp giấy màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy heroine nhằm mục đích để sử dụng. Bị cáo nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S từ 14 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 13/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn. Khi nói lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ 20 phút ngày 13/3/2024, tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép 0,1147 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo phạm tội không có động cơ trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với những người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho S ngày 12 và 13/3/2024, do S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc S ngày 20/3/2024, Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” là phù hợp pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm; Điều 329 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc S 14 ( Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 13/3/2024.

    Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Từ Sơn;
  • - NTG Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger