|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2024/DS-ST Ngày: 13-8-2024 “V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đỗ Thiết Lập;
- Bà Mai Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thái Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 149/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; địa chỉ: Số B, N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Nguyễn Quang T – Phó Giám đốc chi nhánh T2 kiêm Trưởng phòng giao dịch T.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Nguyễn Thị Thúy A – Trưởng bộ phận quản lý tín dụng và KSRR (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Võ Thị Ngọc T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 15/3/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy A trình bày:
Ngày 18/8/2022, chị T1 có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S (từ đây gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 24,6%/năm. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, chị T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 64.050.000 đồng. Chị T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 30.813.982 đồng (thứ tự thanh toán theo quy định tại Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng chị T1 vẫn không trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng. Ngày 10/12/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của chị T1, đã chuyển toàn bộ số tiền chị T1 còn nợ lại Ngân hàng là 51.609.615 đồng sang nợ quá hạn theo quy định tại Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 07/6/2024, chị T1 còn nợ Ngân hàng 51.609.615 đồng và 10.235.757 đồng tiền lãi.
Nay Ngân hàng yêu cầu chị T1 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi tính đến ngày 07/6/2024 là 61.845.372 đồng; yêu cầu tính lãi từ ngày 08/6/2024 cho đến khi tất nợ theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng. Ngoài ra, Ngân hàng không yêu cầu gì khác.
Bị đơn là chị Võ Thị Ngọc T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- - Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xử theo hướng:
- + Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với chị T1. Buộc chị T1 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng 61.845.372 đồng tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 07/6/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 08/6/2024 cho đến khi tất nợ.
- + Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Đức Thạch D là Người đại diện theo pháp luật của Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho ông Nguyễn Quang T đại diện. Ông Nguyễn Quang T vắng mặt nhưng đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thúy A đại diện. Bà Nguyễn Thị Thúy A vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị Võ Thị Ngọc T1 là Bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bà D, ông T, bà Thúy A, chị T1.
[2] Về nội dung tranh chấp: Quá trình giải quyết vụ án, bà Thúy A đại diện cho Ngân hàng yêu cầu chị T1 trả lại cho Ngân hàng 61.845.372 đồng tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 07/6/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 08/6/2024 cho đến khi tất nợ. Xét yêu cầu của Ngân hàng thấy rằng:
[2.1] Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng do Ngân hàng cung cấp có đủ căn cứ xác định chị T1 có ký kết với Ngân hàng Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng trên là có thật. Chị T1 đã được cấp Thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất 24,6%/năm; đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 64.050.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 30.813.982 đồng, chị T1 còn nợ lại 51.609.615 đồng tiền gốc là có thật. Căn cứ vào Bản Tóm tắt sao kê ngày 07/6/2024 của Ngân hàng cung cấp cũng đã có đủ căn cứ xác định tính đến ngày 07/6/2024 chị T1 còn nợ Ngân hàng 10.235.757 đồng tiền lãi quá hạn là có thật.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị T1 đều vắng mặt nên không có lời trình bày, không có chứng cứ phản bác nên xem như không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự và phải chịu hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ chứng minh của mình.
[2.3] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy Ngân hàng yêu cầu chị T1 trả lại cho Ngân hàng 61.845.372 đồng tiền gốc, tiền lãi tính đến ngày 07/6/2024; tiền lãi quá hạn theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng tính từ ngày 08/6/2024 cho đến khi tất nợ là có căn cứ, cần chấp nhận là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[3] Xét đề nghị của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với những nhận định trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc chị T1 phải chịu 3.092.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với chị Võ Thị Ngọc T1 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Buộc chị Võ Thị Ngọc T1 có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 51.609.615 (năm mươi mốt triệu sáu trăm lẻ chín nghìn sáu trăm mười lăm) đồng tiền gốc, 10.235.757 (mười triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn bảy trăm năm mươi bảy) đồng tiền lãi tính đến ngày 07/6/2024, tổng cộng là 61.845.372 (sáu mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn ba trăm bảy mươi hai) đồng và tiền lãi quá hạn theo quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 2194621 đã ký kết ngày 18/8/2022 và Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tính từ ngày 08/6/2024 cho đến khi tất nợ.
2. Về án phí:
- - Chị Võ Thị Ngọc T1 phải chịu 3.092.000 (ba triệu không trăm chín mươi hai nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 1.426.000 (một triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0006045 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, chị T1 biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Nguyễn Thành Chung |
Bản án số 169/2024/DS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 169/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng Ngân hàng S - Võ Thị Ngọc T
