|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 189/2024/DS-ST
Ngày 25/7/2024.
Về việc: Tranh chấp hợp đồng
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị An
2. Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Kỳ Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2024, về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy H, sinh năm 1956; Địa chỉ: Phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thúy H: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ: P, Nhà B, tập thể T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Vũ Thúy H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, Ngõ C, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thúy H1: Chị Nguyễn Hằng N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm C, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Cụ Kiều Thị C, sinh năm 1934; Địa chỉ: Xóm C, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (Đã chết ngày 07/4/2024).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Kiều Thị C:
- Ông Tạ Kiều T1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A, Tổ A, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội.
- Ông Tạ Thành Đ, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị Hồng K, sinh năm 1948; Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Tạ Hồng V, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Tạ Nguyên V1, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Chị Tạ Thị Phương T2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Tạ Thanh T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Anh Tạ Thanh T4, sinh năm 1991; Địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Ông Phan Kế N1, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số A, Tổ G, phường P, quận L, thành phố Hà Nội.
- Chị Phan Thị Hà N2, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số F, Ngõ I, N, G, quận B, thành phố Hà Nội.
- Anh Phan Sơn H2, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số A, Tổ G, P, quận L, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo uỷ quyền của ông Tạ Kiều T1, ông Tạ Thành Đ, bà Nguyễn Thị Hồng K, anh Tạ Hồng V, anh Tạ Nguyên V1, chị Tạ Thị Phương T2, anh Tạ Thanh T4, ông Phan Kế N1, chị Phan Thị Hà N2 và anh Phan Sơn H2: Anh Tạ Thanh T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Văn phòng C1, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Số F L, V, quận H, thành phố Hà Nội.
- 3.2. Ngân hàng N5; Địa chỉ: Số B, phố L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng N5: Ông Trần Văn N3 - Phó Giám đốc Ngân hàng N5, Chi nhánh T6.
- 3.3. Cụ Vũ Thị V2, sinh năm 1946; Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội.
- 3.4. Cháu Nguyễn Thiên N4, sinh năm 2012; Địa chỉ: Số A, Ngõ C, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội (Con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Vũ Thúy H1).
- 3.5. Cháu Nguyễn Tiến Đ2, sinh năm 2014; Địa chỉ: Số A, Ngõ C, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. (Con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Vũ Thúy H1).
- Đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Thiên N4 và Nguyễn Tiến Đ2: Bà Vũ Thúy H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A, Ngõ C, phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thúy H1: Chị Nguyễn Hằng N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Xóm C, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- 3.6. Anh Tạ Thanh T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- 3.7. Cháu Tạ Tùng L, sinh năm 2016; Địa chỉ: Số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật của cháu Tạ Tùng L: Anh Tạ Thanh T3, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Có mặt: Chị T, chị N, anh T3, ông N3.
Vắng mặt: Đại diện Văn phòng C1, cụ V2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
I. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và đại diện của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/4/2011, ông Tạ Anh T5 và bà Nguyễn Thúy H đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 002556 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Ngày 25/10/2013, Ủy ban nhân dân huyện Đ đã ban hành quyết định số 3116/QĐ-UBND về việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 002556 do UBND huyện Đ cấp ngày 25/4/2011 với lý do cấp sai đối tượng.
Ngày 08/5/2015, ông Tạ Anh T5 và bà Nguyễn Thúy H đã ký hợp đồng công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN tại Văn Phòng C1, thành phố Hà Nội, về việc chuyển nhượng phần diện tích 50m2 tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội sang cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Vũ Thúy H1. Tuy nhiên, tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng trên ông Tạ Anh T5 đã không còn, theo Trích lục khai tử số 230/TLKT-BS ngày 01/6/2018 của Ủy ban nhân dân xã V cấp thì ông Tạ Anh T5 chết ngày 12/12/2012.
Năm 2019, cụ Kiều Thị C đã khởi kiện vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo Bản án số 62/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh và Bản án số 318/2021/DS-PT ngày 22/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất. Tòa án tuyên xử:
- Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của cụ Kiều Thị C đối với bà Nguyễn Thúy H.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng N5. Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo nghĩa vụ của người khác số công chứng 3348.2015/HĐTC, quyền số 02.TP/CC-SCC lập ngày 13/7/2015 tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội đối với: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa số 35 tờ bản đồ số 16, tđịa chỉ số 59, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan theo đúng nội dung thỏa thuận được ghi trong hợp đồng.
- Trường hợp các bên liên quan đến Hợp đồng thế chấp bất động sản để đảm bảo nghĩa vụ của người khác số công chứng 3348.2015/HĐTC, quyền số 02.TP/CC-SCC lập ngày 13/7/2015 tại Văn phòng C2, thành phố Hà Nội có tranh chấp và có đơn khởi kiện sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thúy H và ông Nguyễn Văn Đ1, bà Vũ Thúy H1 lập ngày 15/5/2015, Tòa án không xem xét giải quyết trong phạm vi vụ án này do các bên không có yêu cầu. Trường hợp các bên có tranh chấp, có đơn khởi kiện sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Buộc bà Nguyễn Thúy H có trách nhiệm thanh toán cho cụ Kiều Thị C 1.416.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười sáu triệu đồng) giá trị quyền sử dụng 47,2m2 đất có tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bà H đã tự nguyện thi hành án thanh toán cho cụ Kiều Thị C số tiền 1.416.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười sáu triệu đồng) giá trị quyền sử dụng 47,2m2 đất có tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội thông qua anh Tạ Thanh T3. Cụ Kiều Thị C đã nhận đủ số tiền trên, việc giao nhận tiền có lập thành biên bản và Thừa phát lại Sao Dỏ ghi nhận lại theo Vi bằng số 413/2023/VB-TPLSĐ ngày 11/4/2023.
Ngày 24/9/2023, bà H và bà Vũ Thúy H1 có lập văn bản thỏa thuận và Vi bằng số 1045/2023/VB-TPLSĐ ghi nhận và thống nhất các nội dung thỏa thuận như sau: Xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa bà H và ông Nguyễn Văn Đ1 bà Vũ Thúy H1 vô hiệu do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 002556 đã bị thu hồi hủy bỏ theo Quyết định số 3116/QĐ-UBND ngày 25/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Đ. Việc đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Văn Đ1 bà Vũ Thúy H1 đối với thửa đất trên đã bị hủy bỏ theo Quyết định số 618/QĐ-STNMT ngày 07/5/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H. Bà Vũ Thúy H1 tự nguyện bàn giao lại cho bà H toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Do tài sản nêu trên đang thế chấp cho Ngân hàng N5, Chi nhánh T6 nên bà H có nghĩa vụ liên hệ với ngân hàng để thanh toán khoản nợ và hoàn thiện các thủ tục tất toán. Bà H hoàn toàn nhất trí và cam kết tuân thủ theo những thỏa thuận mà bà H đã ký kết với bà Vũ Thúy H1. Bà H khởi kiện, yêu cầu Toà án:
- Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu.
- Công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy H đối với diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội và bà Nguyễn Thúy H có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Nguyên đơn đã có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy H đối với diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội vì yêu cầu này đã được giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật.
II. Bị đơn:
- Đại diện theo uỷ quyền của bà Vũ Thúy H1 có lời khai trình bày: Nhất trí với lời khai của phía nguyên đơn về việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1. Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng trên, ông Tạ Anh T5 chồng bà Nguyễn Thúy H đã chết trước khi ký kết hợp đồng. Việc ông Nguyên Văn Đ3 và bà Vũ Thúy H1 ký nhận chuyển nhượng thửa đất trên là do ông bà đứng tên hộ người khác chứ ông Đ3 và bà H1 không có giao dịch mua bán cũng như không bàn giao tiền với ông T5 và bà H. Ông Nguyễn Văn Đ1 đã chết ngày 26/3/2022 (Theo Trích lục khai tử số 68/TLKT ngày 04/4/2022 của Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội), bà Vũ Thúy H1 xác định toàn bộ nội dung vụ việc tranh chấp đã được giải quyết dứt điểm theo Bản án số 62/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Tòa an nhân dân huyện Đ và Bản án số 318/2021/DS-PT ngày 22/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, giữa và H và bà H1 có lập Vi bằng số 1045/2023/VB-TPLSĐ ngày 24/9/2023 nội dung như và H đã trình bày.
Bà H1 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu.
- Cụ Kiều Thị C đã chết ngày 07/4/2024 theo Trích lục khai tử số 20 ngày 08/4/2024 của Ủy ban nhân dân xã V.
Đại diện theo uỷ quyền của cụ Kiều Thị C có lời khai trước khi cụ Kiều Thị C chết như sau: Bà Nguyễn Thúy H là con dâu của cụ Kiều Thị C, vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội giữa cụ Kiều Thị C và bà Nguyễn Thúy H đã được giải quyết dứt điểm theo Bản án số 62/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh và Bản án số 318/2021/DS-PT ngày 22/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thúy H đã tự nguyện thi hành án và thanh toán cho cụ Kiều Thị C số tiền 1.416.000.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm mười sáu triệu đồng) giá trị quyền sử dụng 47,2m2 đất có tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, cụ Kiều Thị C đã nhận đủ số tiền trên, việc giao nhận tiền có lập thành Vi bằng số 413/2023/VB-TPLSĐ ngày 11/4/2023 do Thừa phát lại S xác nhận. Cụ Kiều Thị C xác nhận không còn bất cứ quyền và nghĩa vụ gì liên quan đến phần diện tích 47,2m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Toàn bộ phần diện tích đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của bà Nguyễn Thúy H. Cụ Kiều Thị C đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh tuyên bố tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu.
Anh Tạ Thanh T3 là người đại diện theo uỷ quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Kiều Thị C có lời khai nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H, đề nghị Toà án nhân dân huyện Đông Anh tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội.
III. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1, thành phố Hà Nội có văn bản trình bày: Việc thực hiện công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 0478.2015 ngày 08/5/2015 giữa Bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thúy H cùng chồng là ông Tạ Anh T5 với Bên nhận chuyển nhượng là bà Vũ Thú H3 và chồng là ông Nguyễn Văn Đ1 đã tuân thủ đúng quy định về thủ tục công chứng, các quy định pháp luật có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng bất động sản. Đồng thời, Văn phòng C1, thành phố Hà Nội đề nghị không tham gia toàn bộ quá trình giải vụ việc.
- Đại diện của Ngân hàng N5 có lời khai: Toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, diện tích 50m2, địa chỉ: phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội đang được thế chấp với Ngân hàng N5, Chi nhánh T6 (Sau đây viết tắt là Ngân hàng) để đảm bảo cho khoản vay của Công ty CP X tại Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 1305-LAV-201500524 ngày 13/7/2015 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số công chứng 3348.2015/HĐTC, quyền số 02.TP/CC-SCC ký kết ngày 13/07/2015 tại Phòng C3, thành phố Hà Nội giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng và bên thế chấp là ông Nguyễn Văn Đ1, bà Vũ Thúy H1. Việc thế chấp tài sản được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tại Bản án số 62/2021/DS-ST ngày 16/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh và Bản án số 318/2021/DS-PT ngày 22/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số công chứng 3348,2015/HĐTC, quyền số 02.TP/CC-SCC ký kết ngày 13/07/2015 tại Phòng C3, thành phố Hà Nội chứng nhận có hiệu lực thi hành đối vưới các bên liên quan theo đúng nội dung thỏa thuận ghi trong hợp đồng. Ngân hàng đề nghị Toà án xem xét xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ của bên thứ ba số công chứng 3348.2015/HĐTC, quyền số 02 TP/CC-SCC ký kết ngày 13/07/2015 tại Phòng C3, thành phố Hà Nội vẫn còn hiệu lực, giá trị pháp luật.
Đến nay, Công ty CP X chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng đối với Hợp đồng cấp tín dụng số 1305-LAV-201500524 ký kết ngày 13/07/2015, dư nợ gốc 1.800.000.000 đồng và các khoản lãi phát sinh. Ngân hàng đồng ý để bà Nguyễn Thúy H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty CP X. Sau khi bà Nguyễn Thúy H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất đã chấp và tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định.
- Anh Tạ Thanh T3 với tư cách là người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời khai nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Cụ Vũ Thị V2 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Đ1 có lời khai xác định: Cụ không liên quan đến giao dịch mà vợ chồng ông Đ1 đã ký kết và xác định không có quyền lợi, trách nhiệm gì trong vụ án và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa:
- Đại diện của nguyên đơn:
Yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu, không yêu cầu giải quyết về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
Rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy H đối với diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội và bà Nguyễn Thúy H có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
- Đại diện của bị đơn đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu và không yêu cầu giải quyết về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đại diện của Ngân hàng xác định không có yêu có yêu cầu độc lập trong vụ án về việc khởi kiện liên quan đến Hợp đồng cấp tín dụng số 1305-LAV-201500524 ngày 13/07/2015 và đồng ý để bà Nguyễn Thúy H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty CP X. Sau khi bà Nguyễn Thúy H thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất đã chấp và tiến hành giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định.
Anh Tạ Thanh T3 nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H về yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0478.2015/CCHBT-HĐCN ngày 08/5/2015 tại Văn phòng công chứng Hai Bà Trưng thành phố C1 vô hiệu.
Đình chỉ giải quyết yêu cầu: Công nhận quyền sử sụng đất của nguyên đơn đối với phần diện tích 50m2 thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội do nguyên đơn đã rút yêu cầu về nội dung này.
Về án phí sơ thẩm: Bà Vũ Thúy H1 chịu chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về sự vắng mặt của đại diện Văn phòng C1 và cụ Vũ Thị V2 tại phiên tòa: Văn phòng C1 và cụ Vũ Thị V2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng có văn bản xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp pháp luật.
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp: Xét giữa bà Nguyễn Thúy H và bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn cụ Kiều Thị C có nơi cư trú tại huyện Đ, thành phố Hà Nội tại thời điểm khởi kiện và tài sản trong hợp đồng có tranh chấp tại huyện Đ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét yêu cầu của nguyên đơn:
- Tuyên vô hiệu đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ các bên giao nộp và Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Đối tượng chuyển nhượng trong hợp đồng là quyền sử dụng 50m2 đất ở tại thửa số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: Số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 25/4/2011 mang tên ông Tạ Anh T5 và bà Nguyễn Thúy H. Ngày 25/10/2013, Ủy ban nhân dân huyện Đ có Quyết định số 3116/QĐ-UBND, về việc thu hồi, hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất mã số BE C02556 mang tên ông Tạ Anh T5, bà Nguyễn Thúy H do kê khai và xét duyệt không đúng đối tượng chủ sử dụng. Ngày 07/5/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H có Quyết định số 618/QĐ-STNMT, về việc hủy bỏ việc đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất mã sô BE 002556 ngày 15/5/2015, với nội dung: Chuyển nhượng toàn bộ cho bà Vũ Thúy H1, sinh năm 1977, CMND số [...] và ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1977, CMND số [...], có cùng hộ khẩu thường trú tại: Số A, ngõ C phố B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội theo Hợp đồng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN lập tại Văn phòng C1 ngày 08/5/2015. Lý do hủy bỏ: Giấy chứng nhận mã số BE 002556 đã bị thu hồi, hủy bỏ theo Quyết định số 3116/QĐ-UBND ngày 25/10/2013 của Ủy ban nhân dân huyện Đ do không đúng đối tượng chủ sử dụng đất.
Xét thấy, tại thời điểm lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 0478.2015/CCHBT-HĐCN tại Văn phòng C1 ngày 08/5/2015 thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đã cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Ủy ban nhân dân huyện Đ thu hồi, hủy bỏ nên không đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 188 Luật Đất đai năm 2013. Mặt khác, tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 08/5/2015, người chuyển nhượng là ông Tạ Anh T5 không còn sống, theo Trích lục khai tử số 230/TLKT-BS ngày 01/6/2018 của Ủy ban nhân dân xã V cấp thì ông Tạ Anh T5 chết ngày 12/12/2012 nên không đủ điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 122, 127, 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 và không đúng với quy định về thủ tục công chứng theo Luật Công chứng.
Như vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và cần tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu.
- Về hậu quả pháp lý đối với hợp đồng vô hiệu: Các đương sự đều xác định hợp đồng là vô hiệu và không yêu cầu toà án giải quyết hậu quả pháp lý đối hợp đồng vô hiệu. Toà án đã tiến hành lập biên bản giải thích pháp luật về việc giải quyết hậu quả đối với hợp đồng vô hiệu nhưng giữa nguyên đơn và bị đơn đều xác định các bên chưa giao nhận tài sản, tài sản chuyển nhượng có trong hợp đồng do bà Nguyễn Thúy H đang quản lý, sử dụng và không yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả pháp lý hợp đồng vô hiệu nên Toà án không xem xét, giải quyết trong vụ án.
- Về việc rút yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy H đối với diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội của đại diện nguyên đơn tai phiên toà.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tại bản án số 318/2021/DS-PT ngày 22/7/2021 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội đã buộc bà Nguyễn Thúy H có trách nhiệm thanh toán cho cụ Kiều Thị C 1.416.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng 47,2m2 đất tại thửa số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Bản án trên đã có hiệu lực pháp luật, bà Nguyễn Thúy H đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho cụ Kiều Thị C theo nội dung bản án nên đại diện của nguyên đơn xác định việc xác định bà Nguyễn Thúy H có quyền sử dụng đất với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội đã được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và yêu cầu xin rút một phần yêu cầu khởi kiện của đại diện nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật, cần đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện trên theo quy định của điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
Thửa đất trên đang được thế chấp tại Ngân hàng N5 để đảm bảo nghĩa vụ cho Công ty CP X. Trường hợp, các bên thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng tiến hành giải chấp theo quy định, thì bà Nguyễn Thúy H có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về khoản nợ của Công ty CP X đối với Ngân hàng, do Ngân hàng không có yêu cầu khởi kiện nên Toà án không phải giải quyết và cũng không đưa Công ty CP X cửa C vào tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp, các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Vũ Thúy H1 phải chịu án phí không có giá ngạch vì yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận.
Tiền tạm ứng án phí: Do bà Nguyễn Thúy H là người cao tuổi được miễn nộp tiền tạm ứng phí dân sự nên Toà án không phải giải quyết tiền tạm ứng án phí.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tại phiên tòa: Phù hợp với quy định của pháp luật và kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, điểm i khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều Điều 122, 127, 129 Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
- Luật Công chứng;
- Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thúy H về việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- - Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số công chứng số 0478.2015/CCHBT-HĐCN, Quyền số 02TP/CC-SCC/HĐGD ngày 08/5/2015 được lập tại Văn phòng C1, thành phố Hà Nội giữa: Bên chuyển nhượng: Bà Nguyễn Thúy H, ông Tạ Anh T5 và bên nhận chuyển nhượng: Bà Vũ Thúy H1, ông Nguyễn Văn Đ1 là vô hiệu.
- - Trường hợp, sau khi các bên thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N5 và Ngân hàng tiến hành giải chấp theo quy định đối với tài sản thế chấp là thửa số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, thì bà Nguyễn Thúy H có quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục kê xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật về đất đai.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thúy H đối với diện tích 50m2 đất tại thửa đất số 35, tờ bản đồ số 16, địa chỉ số E, phố V, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội do nguyên đơn xin rút yêu cầu.
- Về án phí sơ thẩm:
- - Bà Vũ Thúy H1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Văn phòng C1 và cụ Vũ Thị V2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án vắng mặt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Duy Khoa |
Bản án số 189/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 189/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam đối với chị Vũ Thị Thanh.
