|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đại Đồng.
ông Nguyễn Tiến Bộ.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
tham gia phiên toà: ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-ST ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1995.
Nơi thường trú: thôn P, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987.
Nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 05/3/2015 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị làm lao động tự do và sinh sống tại xã H. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong lối sống, sinh hoạt, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Mặc dù chị đã cố gắng hàn gắn và được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay, không còn quan tâm đến nhau, chị đã về ở nhờ nhà mẹ đẻ tại thôn P, xã H. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh T.
Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung ở với anh T. Khi ly hôn, chị đồng ý tiếp tục giao cháu Nguyễn Khang A cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Về việc anh T không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con chung, chị đồng ý.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn T hiện có hộ khẩu và đang cư trú tại thôn A, xã H, huyện M. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt không lý do; anh T có văn bản trình bày quan điểm, ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: anh xác nhận thời điểm kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và thời điểm ly thân như chị H đã trình bày là đúng. Nay chị H có đơn xin ly hôn quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh và chị Nguyễn Thị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Nguyễn Khang A do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp ly hôn, anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khang A cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công sức và nợ chung: anh xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tòa án đã lấy lời khai của bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn T, bà H1 cho biết: gia đình hai bên tổ chức đám cưới cho chị H và anh T theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội vào năm 2015. Sau khi kết hôn thì 2 vợ chồng làm lao động tự do và sinh sống tại xã H. Vợ chồng chị H, anh T chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm, lối sống, sinh hoạt, phát triển kinh tế gia đình, nuôi dạy con cái. Mặc dù gia đình cũng cố gắng để hòa giải hàn gắn nhau nhưng đều không có kết quả. Hiện giờ chị H không ở cùng gia đình và chồng nữa. Về yêu cầu xin ly hôn của chị H thì quan điểm của anh T và gia đình bà là đồng ý ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không có khả năng hàn gắn.
Về con chung: vợ chồng anh T, chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Nguyễn Khang A đang ở với anh T. Quan điểm của anh T và gia đình bà là đề nghị được tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Còn về tài sản chung, công sức và nợ chung của anh T, chị H thì bà không nắm bắt được.
Do anh Nguyễn Văn T phải đi làm ăn để nuôi con nên các văn bản tố tụng của Tòa án bà sẽ nhận thay cho anh T và có trách nhiệm giao lại, thông báo lại cho anh T ngay trong ngày.
Theo Biên bản xác minh ngày 13/5/2024, Ủy ban nhân dân xã H cung cấp: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H theo quy định của pháp luật (theo Sổ đăng ký kết hôn số 28/2015, quyển số 01/2015, ngày 05/3/2015 hiện còn lưu trữ), là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H có đơn xin ly hôn anh T, quan điểm của địa phương là đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình chung sống, anh T và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015 (theo Giấy khai sinh số 182/2015, quyển số 01/2015 ngày 06/5/2015 đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã H). Ngoài ra, anh chị không thực hiện việc đăng ký khai sinh cho con chung, con nuôi nào khác. Trường hợp ly hôn, cháu Nguyễn Khang A còn nhỏ nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định bảo đảm quyền lợi tốt nhất và tôn trọng nguyện vọng của cháu.
Về tài sản chung, công sức và nợ chung của anh chị, địa phương không nắm bắt được nên đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như bản tự khai đã gửi cho Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:
Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Cụ thể:
Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: xét thấy từ khi vợ chồng ly thân con chung vẫn ở với anh T và có nguyện vọng tiếp tục ở với bố, các đương sự cũng thống nhất việc giao con cho anh T nuôi dưỡng nên đề nghị giao cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản, công sức và nợ chung: các đương sự đều trình bày không có và không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T có hộ khẩu và nơi cư trú tại thôn A, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội, đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
Tại phiên toà, nguyên đơn và bị đơn đã được Tòa án triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử giải quyết vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng quan điểm lối sống, không tìm được tiếng nói chung nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, xảy ra nhiều mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải nhưng không có kết quả. Thực tế từ năm 2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân.
Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn T bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H, ý kiến đồng ý của anh Nguyễn Văn T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: xét yêu cầu giao cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015 cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng thì thấy: từ khi vợ chồng ly thân, cháu Nguyễn Khang A ở cùng anh T, được chăm sóc, nuôi dưỡng, học tập ổn định và phát triển bình thường. Anh Nguyễn Văn T đề nghị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Khang A và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Khang A có nguyện vọng xin được ở với bố. Vì vậy để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, anh T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, theo đó giao cháu Nguyễn Khang A cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn T không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công sức và nợ chung: chị H, anh T đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: giao cháu Nguyễn Khang A, sinh ngày 10/4/2015 cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn T không yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi có yêu cầu mới.
Chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công sức và nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007872 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
- Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Đức Hiệp |
Bản án số 169/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 169/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
