| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TỈNH BẮC NINH | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2024/HS-ST | |
| Ngày 06/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thuỳ Phương, bà Nguyễn Thị Phú.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 170/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn H, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Không. ĐKHKTT: Khu phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên bố: Lê Quốc H1, sinh năm 1960 (Đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1958. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại bản án số 116/2012/HSST ngày 07/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 136 BLHS 1999. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 28/02/2015.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Ông Nguyễn Kim S – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
+ Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H, sinh năm 1985, HKTT: Khu phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2011 đến nay. Chiều ngày 06/5/2024, H đến khu phố D để mua ma tuý về sử dụng thì quen biết một người đàn ông dáng người nghiện và cho số điện thoại để liên lạc. Khoảng 12h40' ngày 07/5/2024, khi Hội đang ngồi chơi ở khu phố G, phường P thì người đàn ông ngày hôm qua gọi điện thoại rủ H xuống khu vực tượng đài thuộc phường P uống nước. Hội đồng ý, rồi ra đầu ngõ bắt xe ôm xuống điểm hẹn. Đến nơi, hai người nói chuyện trong quán nước của chị Viêm Thị T, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố N, phường P. Ngồi được một lúc, người đàn ông đưa cho Hội 01 gói giấy bạc màu trắng, Hội biết đó là ma túy mà người đàn ông cho H để sử dụng nên dùng tay phải cầm lấy gói ma tuý, còn người đàn ông đứng dậy đi đâu Hội không biết. Khi H đang ngồi uống nước thì lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ tại lòng bàn tay phải của Hội 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1992, HKTT: Khu phố E, phường P và ông Nguyễn Khắc N, sinh năm 1960, HKTT: Khu phố Đ, phường P. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại bản Kết luận giám định số 1152/KL-KTHS ngày 09/5/2024 Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,2683 gam, là ma túy, loại ma túy heroine”.
Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất”
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Lê Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKSQV ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Lê Văn H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo H đã khai nhận: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2011 đến nay. Chiều ngày 06/5/2024, bị cáo đến khu phố D để mua ma tuý về sử dụng thì quen biết một người đàn ông và cho số điện thoại để liên lạc. Ngày 07/5/2024, người đàn ông đó gọi điện thoại rủ bị cáo xuống khu vực tượng đài thuộc phường P uống nước tại quán nước, ngồi được một lúc, người đàn ông đưa cho bị cáo 01 gói giấy bạc màu trắng, bị cáo biết đó là ma túy nên dùng tay phải cầm lấy gói ma tuý. Đến khoảng 13 giờ 00 phút, tại quán nước, bị cáo bị lực lượng Công an phường P đến kiểm tra, bắt quả tang. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Lê Văn H từ 15 -18 tháng tù.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 07/5/2024, tại quán nước của chị Viêm Thị T ở tượng đài thuộc Khu phố C, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Công an phường P bắt quả tang Lê Văn H có hành vi tàng trữ 0,2683 gam ma túy Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho con người, cộng đồng và cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hộị, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy là mầm mống của nhiều căn bệnh thế kỷ cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy hành vi của bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.
Về nhân thân: Tại bản án số 116/2012/HSST ngày 07/5/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, xử phạt 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 136 BLHS 1999. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 28/02/2015.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Liên quan trong vụ án này còn có:
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hội ngày 06/5/2024 và người đàn ông cho Hội gói ma tuý để Hội sử dụng ngày 07/5/2024, Hội không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với chiếc điện thoại Nokia 1280 màu đen của Hội dùng để liên lạc với người đàn ông cho Hội ma tuý ngày 07/5/2024, trên đường H đi từ phường P xuống khu vực tượng đài phường P đã bị rơi mất, ở đâu không rõ. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa tìm được. Khi nào thấy sẽ xử lý theo quy định.
- Đối với chị Viêm Thị T chủ quán nước, chị T không có quan hệ quen biết gì với H và người đàn ông đi cùng Hội, không biết việc các đối tượng ngồi tại quán của chị để trao đổi và đưa ma tuý cho nhau, nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý và phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: L (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 138 ngày 12/8/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
| - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
| - VKS, CA,THADS thị xã Quế Võ; | |
| - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; | Nguyễn Thị Thu Thảo |
| - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; | |
| - Lưu hồ sơ, văn phòng. |
Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 169/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
