TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 169/2024/HS-ST Ngày 06-8-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Cần.
Ông Nguyễn Quốc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 188/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 207/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Tạ Quang D, sinh năm 2000 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Quang D1 và bà Vũ Thị L; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 04/12/2019, bị cáo bị Công an phường B, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 1599/QĐ-XPVPHC; đóng phạt ngày 17/12/2019 (bút lục 88-89).
Ngày 21/01/2024, bị bắt và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tạ Quang D là đối tượng nghiện ma túy, có mối quan hệ quen biết với đối tượng tên T (không rõ nhân thân).
Khoảng 10 giờ ngày 21/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D điều khiển xe mô tô biển số 68D1-554.36 đi từ nhà tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến quán cà phê (không rõ tên) tại khu vực C thuộc thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương để gặp T. Quá trình nói chuyện với T, D nhờ T liên hệ mua ma túy đá để D sử
2
dụng thì T đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) đến trước quán cà phê. Lúc này D đưa cho T số tiền 700.000 đồng, T đưa số tiền này cho người đàn ông (không rõ nhân thân) thì người này đưa cho T 01 gói thuốc lá hiệu “Thăng Long” bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và T đưa lại cho D. Sau khi kiểm tra bên trong gói thuốc lá có ma túy, D liền cất giấu gói thuốc lá vào cốp xe mô tô biển số 68D1-554.36 rồi điều khiển xe về nhà.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang điều khiển xe mô tô biển số 68D1-554.36 đi trên đường Đ thuộc khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường H phát hiện D có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe mô tô biển số 68D1-554.36 có 01 gói thuốc lá hiệu “Thăng Long” bên trong có 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. D khai nhận 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy của D cất giấu để sử dụng. Lực lượng tuần tra Công an phường H tiến hành thu giữ, niêm phong 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng rồi đưa D về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Công an phường H còn thu giữ 01 gói thuốc lá hiệu “Thăng Long”, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 và 01 xe mô tô biển số 68D1-554.36.
Sau đó, Công an phường H lập hồ sơ vụ việc ban đầu và chuyển Tạ Quang D cùng hồ sơ, vật chứng thu giữ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận giám định số 593(633)/KL-KTHS(MT) ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: tinh thể màu trắng thu giữ của Tạ Quang D gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,5272 gam.
Xe mô tô biển số 68D1-554.36 do bà Hà Thị Kim N (sinh năm 1981, nơi thường trú: ấp N, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Khoảng tháng 3/2023, bà N bán xe mô tô trên cho cửa hàng cầm đồ (không rõ tên) tại khu vực thành phố T, tỉnh Bình Dương với số tiền 16.000.000 đồng, khi mua bán không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu theo quy định. Tạ Quang D khai mua lại xe mô tô trên tại cửa hàng X tại phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương với số tiền 17.500.000 đồng, có giấy tờ mua bán xe. Qua tra cứu, xe mô tô biển số 68D1-554.36 không có trong dữ liệu xe máy vật chứng.
Cáo trạng số 201/CT-VKSTU ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Tạ Quang D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Quang D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy, gói thuốc lá là vật chứng và vật cấm lưu hành; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô là phương tiện tàng trữ ma túy; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động không liên quan đến vụ án.
3
Bị cáo trình bày ý kiến: bị cáo đồng ý luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật; mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: ngày 21/01/2024, tại khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Tạ Quang D có hành vi tàng trữ trái phép 1,5272 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của nhà nước. Về nhận thức, các bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là loại chất gây nghiện nguy hiểm do nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý. Vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma túy không những gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị trừng trị nghiêm khắc nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Hiện nay, tình hình vận chuyển, tàng trữ, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với số lượng lớn đang diễn biến phức tạp tại địa bàn tỉnh Bình Dương nên đối với hành vi của bị cáo cần phải xử mức hình phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, trừng trị đối với bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa cho xã hội, đặc biệt là đối với tội phạm ma túy.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phạm phải.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
4
[6] Về nhân thân: bị cáo bị Công an phường B, thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng theo Quyết định số 1599/QĐ-XPVPHC ngày 04/12/2019. Điều này cho thấy bị cáo không biết sửa đổi, khắc phục hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để làm người lương thiện, sống có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo.
[7] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 593/PC09 bên trong chứa Methamphetamine và Ketamine; 01 gói thuốc lá hiệu “Thăng Long” là vật chứng trong vụ án và là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 xe mô tô biển số 68D1-554.36 là phương tiện bị cáo sử dụng tàng trữ ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân) có hành vi mua ma túy giùm cho D và và người đàn ông (không rõ nhân thân) có hành vi bán trái phép chất ma túy cho D, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra để xử lý sau.
[10] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Tạ Quang D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Tạ Quang D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/01/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) bì thư niêm phong ký hiệu 593/PC09 bên trong chứa Methamphetamine và Ketamine; 01 gói thuốc lá hiệu “Thăng Long”, theo Kết luận giám định số 593(633)/KL-KTHS(MT) ngày 29/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
01 (một) gói thuốc lá hiệu Thăng Long đã qua sử dụng.
5
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
01 xe mô tô biển số 68D1-554.36 (số máy: KC26E1236476, số khung: RLHKC2603GY390977, xe không hoạt động, xe không yếm xe, không bửng không dè trước, không kính chiếu hậu).
Trả lại cho bị cáo Tạ Quang D:
01 điện thoại di động hiệu Samsung A32 màu trắng, đã qua sử dụng (không mở được nguồn, không kiểm tra được Imei).
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 7 năm 2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Tạ Quang D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hiền |
Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 169/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
