Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/DS - PT

Ngày: 05/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, Bà Phạm Thị Chuyền.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2024/DS-PT ngày 13/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 73/2024/DS-ST ngày 23/10/2023 của Toà án nhân dân huyện (nay là thị xã) V bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 44/2024/QĐ-PT ngày 29/01/2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 67/2024/QĐ-PT ngày 28/02/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 38/2024/QĐ-PT ngày 21/3/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 06/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 17/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 337/TB-TA ngày 10/7/2024 giữa:

*Nguyên đơn: Ông Thân Văn D, sinh năm 1946 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang

*Bị đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1943 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Xuân S, sinh năm 1947 (Có mặt).
  2. Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

  3. UBND xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang do ông Giáp Văn P - Chủ tịch UBND xã đại diện (có đơn xin vắng mặt)

3. Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang - Ông Nguyễn Văn T, trưởng thôn đại diện (Vắng mặt).

4. Ông Thân Văn Đ, sinh năm 1933 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang

5. Ông Nguyễn Hữu Đ1, sinh năm 1950 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số B, Tổ A, đường H, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng

6. Ông Thân Kiên C1, sinh năm 1952 (Vắng mặt).

7. Ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1955 (Vắng mặt).

8. Bà Hà Thị K, sinh năm 1950 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn C, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân S.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn là ông Thân Văn D trình bày: Năm 1993 ông làm đội trưởng của thôn T cùng năm thôn có chủ trương làm trạm biến áp và làm đường điện; khi đó Trưởng thôn là ông Trần Văn C, sinh năm 1943, ông Trần Xuân S, sinh năm 1947 làm kế toán, ông Thân Văn Đ, sinh năm 1933 làm thủ quỹ, ông Nguyễn Đinh H, bí thư chi bộ (Đã chết). Do thiếu tiền làm điện nên ông Trần Xuân S, và ông Trần Văn C cùng ông đi xuống T cùng với ông Thân Kiên C1, sinh năm 1952, ông vay của cụ Nguyễn Thị G (Đã chết) 30 chỉ vàng 9999, sau đó cho thôn vay lại ông C và ông S là người nhận 30 chỉ vàng; sau khi nhận vàng hai ông mang đi Hà Nội bán ngay cùng ngày được số tiền 12.750.000đ; Khi về hai bên có làm Hợp đồng vay vốn xã viên ngày 05/01/1993 với nội dung: Ban chỉ đạo làm điện thống nhất vay tiền của ông 3 chỉ vàng thời gian vay 03 tháng, lãi suất 20.000đ/01 chỉ/tháng, có chữ ký của lãnh đạo thôn ông Trần C, thủ quỹ ông Thân Văn Đ, kế toán trưởng ông Trần Xuân S. Số tiền này dùng để mua máy biến áp đặt ở trạm biến áp ở thôn. Sau khi vay Thôn T đã trả cho ông được ba lần:

Ngày 16/01/1995 trả 9.298.000đ (tiền lãi); ngày 22/01/1998 trả 2.291.200đ, ngày 04/12/2004 trả 3.740.800đ. Đến nay ông xác định bên vay còn nợ ông 3 chỉ vàng 9999 và tiền lãi từ năm 1993 đến nay với lãi suất 20.000đ/tháng/01 chỉ đến nay. Ông D yêu cầu ông Trần Văn C, ông Trần Xuân S là người trực tiếp vay ông phải trả ông 30 chỉ vàng gốc và lãi mỗi tháng là 600.000đ tính đến nay là 30 năm là 216.0000.0000đ.

Lời khai của bị đơn ông Trần Văn C thể hiện: Ông làm trưởng thôn Thiết Nham từ năm 1980 đến năm 1995, năm 1992 thôn có chủ trương làm đường điện, trạm biến áp, và được sự nhất trí của UBND xã M. Quá trình làm trạm biến áp thôn có thiếu vốn nên phải vay vốn của xã viên. Khi vay vốn xã viên có tổ chức họp dân, được nhân dân thống nhất đồng ý (Căn cứ Nghị quyết chi bộ thôn ngày 03/11/1992, Nghị quyết đại hội đại biểu nhân dân ngày 07/11/1992). Khi đó cụ G là người Từ Sơn (Không rõ địa chỉ cụ thể) có cho thôn vay 30 chỉ vàng 9999. Khi vay có tất cả những người ban điện chứng kiến gồm ông Trần Xuân S – Kế toán, ông Thân Kiên C1, ông Thân Văn Đ – Thủ quỹ, ông Nguyễn Hữu Đ1, ông Thân Trọng S1, ông Thân Xuân Đ2 (Đã chết), Nguyễn Đình H1 (Đã chết) ông Thân Văn D và ông Nguyễn Văn P1 cùng đi xuống nhà cụ G lấy vàng trực tiếp ông D là người cầm vàng sau đó cả ban cùng ra Hà Nội để trả vàng cho bên thầu, bên T1 nhận vàng và tính ra tiền.

Việc thôn ký hợp đồng vay vốn xã viên ngày 05/01/1993, do cụ G ủy quyền cho ông Thân Văn D, nên các bên thống nhất ký hợp đồng vay vốn với ông D, khi ký có ông D, ông S, ông Đ và ông; sau khi trả tiền cho nhà thầu thì hai bên mới về làm hợp đồng vay vốn và viết phiếu nhập quỹ, phiếu chi với giá 425.000đ/01 chỉ. Sau khi ông nghỉ thôi không làm trưởng thôn có bàn giao cho trưởng thôn sau là ông Trần Xuân S.

Quá trình trả nợ ông D: Khoảng năm 1993, 1994 thôn đã trả ông D hơn 9.000.000đ. Nay ông D khởi kiện yêu cầu ông trả số vàng đã vay ông không đồng ý trả vì đây là khoản vay của thôn T.

Lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thể hiện:

Ông Trần Xuân S từ năm 1989 đến năm 1995 ông làm Kế toán thôn, từ năm 1996 đến năm 1999 làm trưởng thôn. Năm 1993 thôn có nhu cầu làm đường điện và trạm biến áp à được sự đồng ý của UBND xã M, trước khi làm lãnh đạo thôn xác định là thiếu vốn nên có họp đại biểu xã viên mỗi gia đình một người và được nhân dân đồng ý, thống nhất ai có điều kiện sẽ cho thôn vay.

Việc vay tiền của cụ G: Ông không biết địa chỉ của cụ G chỉ biết cụ ở T (đã chết), ban điện gồm 10 người, ông S, ông C1, ông Đ, ông Đ1, ông S1, ông D, ông P1, ông Đ2, ông H1 thuê xe ô tô đi xuống nhà Cụ G; khi đến nhà cụ G thì ông C và ông D trực tiếp vào nhận vàng còn lại ở ngoài cổng chờ, sau đó tất cả cùng về T, đến sáng hôm sau ông C chở ông D, ông C1 chở ông đi xe máy đi Hà Nội trả tiền nhà thầu điện trả 30 chỉ vàng tính giá 425.000đ/chỉ.

Việc ký hợp đồng vay vốn xã viên: ngày 05/01/1993, do cụ G ủy quyền cho ông D nên có ký hợp đồng vay vốn người cho vay là ông Thân Văn D, nội dung hợp đồng thôn vay 30 chỉ vàng, lãi suất 20.000đ/01 chỉ/tháng; thời gian vay là 03 tháng, phương thức thanh toán, trả một lần gốc và lãi. Có chữ ký của chủ cho vay Thân Văn D, lãnh đạo thôn: Trần C, kế toàn: ông Trần Xuân S.

Sau khi bán vàng có nhập quỹ ngày 07/01/1992 (nhầm năm thực tế là năm 1993) nội dung là ông D đội 1 cho vay vàng quy tiền (có lãi) 12.750.000đ có chữ ký của ông C trưởng thôn, ông S – Kế toán, ông Đ – Thủ quỹ.

Việc trả nợ cho ông D: Ngày 16/01/1995 trả 9.298.000đ, trả tiền gốc, ngày 11/3/1998 trả 2.291.000đ trong đó 1.000.000đ tiền mặt và 1291.000đ trừ tiền sản của ông D tổng là 2.291.0000đ; ngày 04/12/2004 trả 3.740.000đ; tổng số tiền đã trả 15.329.000đ.

Đến nay ông D khởi kiện yêu cầu ông và ông C trả tiền quan điểm ông là có vay cho thôn làm công trình điện, có phiếu thu, phiếu chi vay vì mục đích của dân trong thôn, toàn dân được hưởng nên đề nghị thôn T có trách nhiệm trả nợ.

Trưởng thôn Thiết Nham ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông làm Trưởng thôn Thiết Nham, xã M từ năm 2002 đến nay. Thời điểm năm 1993 việc UBND xã M có chủ trương xây dựng trạm biến áp tại thôn T ông không nắm được, có nghị quyết về việc vay tiền hay không, mục đích vay thế nào ông không nắm được vì thời điểm này ông không giữ chức vụ gì trong thôn. Năm 2002 khi ông làm trưởng thôn thì khóa cũ có bàn giao lại các khoản nợ chung cho khóa mới trong đó có bàn giao khoản nợ của ông Thân Văn D 30 chỉ vàng 9999, tuy nhiên việc vay nợ thế nào ông không nắm được, không biết các bên đã trả nợ cho nhau bao nhiêu. Trạm biến áp khi thu hồi được bao nhiêu tiền ông không nắm được.

UBND xã M do ông Giáp Văn P Chủ tịch trình bày: Hiện nay UBND xã không còn lưu trữ được hồ sơ gì liên quan đến việc xây dựng trạm biến áp thôn T do vậy không có tài liệu, thông tin liên quan cung cấp cho Tòa án, việc vay mượn giữa ông Thân Văn D và ông Trần Văn C ông không nắm được.

Ông Thân Văn Đ trình bày: Năm 1992 ông có tham gia vào Ban điện của thôn gồm có ông Trần Văn C, Trần Xuân S, ông D, ông H1 (đã chết) ông Đ2 (Đã chết); việc thôn T có nghị quyết vay vốn xã viên hay không ông không được biết. Việc vay tiền của ông D ông không được biết, ngày 05/01/1993 khi đó ông làm thủ quỹ của Ban điện nên có ký vào hợp đồng vay vốn xã viên và phiếu thu còn thực tế ông không được cầm tiền giữ tiền, việc vay mượn thế nào ông không nắm được. Nay ông xác định không liên quan đến việc vay tiền của ông D.

Ông Nguyễn Văn P1 trình bày: Khoảng những năm 1991 – 1992 thôn T có xây dựng hệ thống điện nông thôn thì có thành lập ban điện ban đầu có ông Thân Văn Đ, Thân Kiên C1, mục đích của ban điện là khi nào bà con xã viên có nhu cầu mua đất thì đi đo đất bán cho xã viên để lấy tiền làm điện, ông có tham gia từ đầu sau đó đến năm 1992 ông nghỉ không tham gia; việc vay tiền của ông D ông không được biết, không được đi vay; thời điểm này có họp thôn để vay tiền ông D không do đã lâu ông không nhớ.

Bà Hà Thị K trình bày: Bà là vợ của ông Thân Văn D, năm 1993 khi thôn làm điện thiếu tiền nên ban lãnh đạo thôn có vay của ông Doanh số vàng là 30 chỉ vàng 9999, sau đó ban lãnh đạo thôn không thanh toán cho ông D, do vậy bà đề nghị Tòa án buộc ông C, ông S trả lại cho vợ chồng bà.

Ông Nguyễn Hữu Đ1 Trình bày: Ông có tham gia trong ban quản lý thôn phụ trách nông nghiệp không được phân công trong ban quản lý điện; Chi bộ và đại hội xã viên có thống nhất vay vốn làm điện, việc vay tiền của cụ G ông không trực tiếp vay vốn nhưng ông được biết việc vay vốn làm điện là có thật và có đi bán nhập tiền vào quỹ chi là đúng.

Ông Thân Kiên C1: Năm 1992 ông có làm Thư ký Ban điện có nhiệm vụ ghi chép lại việc làm khi đó. Việc vay tiền tại nhà cụ G khi đó ông cùng ông C, ông S, ông D đi hai xe máy đến nhà cụ G vay tiền, khi đó có ông D, ông C, ông S vào trong vay tiền ông ở ngoài chờ, việc vay nợ thế nào bao nhiêu ông không biết, vay xong ông D, ông C, ông S đi ra Hà Nội gặp ông L làm công ty thầu điện ở phố H - Hà Nội trả tiền.

Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST 23/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V) đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 357, Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điểm đ, khoản 1 Điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 Luật thi hành án dân sự;

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Trần Văn S2 và ông Trần Văn C phải liên đới trả ông Thân Văn D và bà Hà Thị K số tiền là 248.809.000đ (Hai trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm linh chín nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 16/11/2023, ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST 23/10/2023 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

* Nguyên đơn ông Thân Văn D trình bày: Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S phải có trách nhiệm trả cho ông 30 chỉ vàng. Ông xác định cho thôn T vay, tuy nhiên ông C và ông S đứng ra đại diện cho thôn để ký hợp đồng với ông. Vì vậy, ông C và ông S phải có trách nhiệm trả số vàng đã vay của ông như quyết định của bản án sơ thẩm. Ông xác định đến thời điểm hiện taị bị đơn đã thanh toán cho ông được số tiền 15 triệu đồng. Ông không có ý kiến gì về trình bày của ông C đối với giá vàng tại thời điểm năm 1995 là 500.000 đồng.

* Bị đơn ông Trần Văn C trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, ông D trình bày không thật, ông D là kế toán mà 13 năm ông D không tiến hành khởi kiện. Quan điểm của ông là ông vay cho tập thể chứ không phải vay cho cá nhân ông. Ông xác định từ thời điểm vay đến thời điểm hiện tại đã trả cho ông D được 15 triệu đồng. Nguồn tiền trả cho ông D là của tập thể khi thôn tiến hành thu mua trạm điện. Giá vàng tại thời điểm năm 1995 là 500.000 đồng.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân S trình bày: Ông nhất trí với lời trình bày của bị đơn ông Trần Văn C. Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Số tiền 15 triệu đồng thôn đã thanh toán cho ông D là trả vào gốc.

+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông C và ông S, X:

+ Tuyên bố hợp đồng vay vốn xã viên đầu tư công trình điện ngày 05/01/1993 giữa ông Thân Văn D và thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang là vô hiệu.

+ Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Thân Văn D 04 chỉ vàng tương đương số tiền là 22.800.000 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng). Cụ thể: ông Trần Văn C phải trả cho ông Thân Văn D 02 chỉ vàng tương đương số tiền là 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng). Ông Trần Xuân S phải trả cho ông Thân Văn D 02 chỉ vàng tương đương số tiền là 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Thân Văn D, ông Trần Văn C, ông Trần Xuân S.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Xuân S, ông Trần Văn C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vu liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Xuân S, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn ông Thân Văn D khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Văn C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân S trả số nợ gốc là 30 chỉ vàng và tiền lãi phát sinh tính lãi mỗi tháng là 600.000 đồng tính đến nay là 30 năm là 216.0000.0000 đồng.

[2.1]. Xét hợp đồng vay vốn ngày 05/01/1993, HĐXX xét thấy:

Ngày 05/01/1993, ông Thân Văn D có cho thôn T vay vàng để đầu tư công trình điện. Hai bên có lập hợp đồng vốn với với nội dung “Ban chỉ đạo thôn thống nhất vay vốn của ông Thân Văn D 30 chỉ vàng, thời gian vay là 03 tháng, lãi suất 20.000đ/chỉ/tháng. Phương thức thanh toán trả một lần nợ gốc và lãi, thời gian vay là 03 tháng” có chữ ký của người chủ cho vay là ông Thân Văn D, lãnh đạo thôn là ông Trần Văn C, Kế toán là ông Trần Xuân S, thủ quỹ điện ông Thân Văn Đ. Do vậy xác định số vàng đã vay là 30 chỉ vàng 9999. Hợp đồng vay vốn ngày 05/01/1993 có chữ ký của lãnh đạo thôn ông Trần C, thủ quỹ ông Thân Văn Đ, kế toán trưởng ông Trần Xuân S và chủ cho vay ông Thân Văn D được lập thành văn bản, có chứng nhận của UBND xã M. Các bên ký trong hợp đồng vay đều xác định hợp đồng này là ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S đại diện thôn T vay. Đối với việc ông Thân Văn Đ ký trong hợp đồng vay vốn mục “Thủ quỹ” và phiếu thu ngày 09/01/1992 tuy nhiên ông ký với lý do ông là thủ quỹ chứ thực tế số tiền không nhập quỹ và ông không tham gia vay. Hội đồng xét xử thấy căn cứ lời khai các ông Thân Văn D, ông Trần Xuân S, ông Trần Văn C và ông Thân Văn Đ xác định ông D khởi kiện đối với ông C và ông S là đúng vì ông Đ không tham gia vào quá trình vay, không biết việc bán vàng, thực tế số tiền không nhập vào quỹ và ông Đ cũng không phải là người nhận vàng.

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận: Việc vay vốn là do thôn T vay để đầu tư công trình điện. Tuy vậy, theo quy định tại Điều 4 Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 52-LCT/HĐNN8 ngày 07/05/1991 về hợp đồng dân sự thì: “Cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội gọi chung là tổ chức, có tư cách pháp nhân, thì có quyền giao kết hợp đồng dân sự”. Như vậy, thôn T không phải là cơ quan nhà nước, không phải là tổ chức có tư cách pháp nhân nên không có quyền giao kết hợp đồng dân sự. Bên cạnh đó, theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì thôn không phải là một cấp hành chính. Căn cứ Điều 10 Thông tư số 14/2016/TT-BNV ngày 3/12/2018 của Bộ N về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 của Bộ N hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố thì Trưởng thôn không có nhiệm vụ, quyền hạn được đại diện cho nhân dân trong thôn tham gia tố tụng dân sự.

Tại mục 26, phần IV, của Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999 của Tòa án nhân dân tối cao đã quy định: “Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì thôn không phải là đơn vị có tư cách pháp nhân, thôn không phải là đơn vị hành chính do đó Trưởng thôn không thể tự nhân danh nhân dân của thôn đó trong việc giao kết Hợp đồng dân sự cũng như tự đứng ra tham gia tố tụng dân sự với tư cách đại diện cho nhân dân của thôn đó. Tuy nhiên, nếu Trưởng thôn đó được mọi người trong thôn ủy quyền trong việc giao kết Hợp đồng dân sự và tham gia tố tụng dân sự khi có tranh chấp, thì Trưởng thôn có quyền giao kết Hợp đồng dân sự và trong trường hợp này mọi người trong thôn phải cùng cam kết thực hiện các điều khoản của Hợp đồng cũng như cùng chịu trách nhiệm phát sinh từ Hợp đồng. Khi có tranh chấp Hợp đồng nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Trưởng thôn đại diện cho nhân dân trong thôn đó tham gia tố tụng. Trong trường hợp Trưởng thôn không được nhân dân trong thôn ủy quyền mà tự mình giao kết Hợp đồng dân sự. thì tự mình phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng đó”.

Ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S xác định tại thời điểm thực hiện dự án làm đường điện, ông C làm trưởng thôn, ông S làm Kế toán đại diện thôn để đứng ra vay tiền thực hiện dự án. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông C, ông S không cung cấp được các tài liệu chứng cứ thể hiện việc các xã viên trong thôn T ủy quyền cho ông C, ông S đại diện thôn T đứng ra vay vàng để thực hiện dự án. Mặt khác hiện nay Nghị quyết chi bộ thôn ngày 03/11/1992 và Nghị quyết Đại hội đại biểu thôn ngày 07/11/1992 không còn. Do đó, không có căn cứ xác định mọi người trong thôn ủy quyền cho ông C, ông S giao kết Hợp đồng vay với ông D. Không có căn cứ xác định việc vay vốn này thông qua mọi người trong thôn để yêu cầu mọi người trong thôn cam kết về việc thực hiện các điều khoản của Hợp đồng cũng như cùng chịu trách nhiệm phát sinh từ hợp đồng đó. Cho nên, xác định việc vay vàng là trách nhiệm cá nhân của ông C và ông S.

Như vậy, việc ông C và ông S nhầm lẫn là đại diện cho thôn ký hợp đồng vay vốn xã viên ngày 05/01/1993 vi phạm về chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Phía nguyên đơn ông Thân Văn D cũng nhầm lẫn việc ông C và ông S được đại diện thôn để đứng ra ký hợp đồng vay vàng. Nên có căn cứ xác định hợp đồng này là vô hiệu theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 52-LCT/HĐNN8 ngày 07/05/1991 về hợp đồng dân sự.

[2.2]. Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

Do hợp đồng vay giữa bên cho vay ông Thân Văn D với bên vay ông Trần Văn C vô hiệu do hai bên nhầm lẫn nên không phát sinh hiệu lực, lỗi của các bên dẫn tới hợp đồng vô hiệu là như nhau nên không có căn cứ đặt ra vấn đề giải quyết bồi thường thiệt hại do hợp đồng vô hiệu gây ra.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 52-LCT/HĐNN8 ngày 07/05/1991 về hợp đồng dân sự: “Trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộ, thì các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận, nếu tài sản đó không bị tịch thu theo quy định của pháp luật; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật, thì phải hoàn trả bằng tiền”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Thân Văn D, ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S đều thừa nhận đã trả cho ông D tổng số tiền là 15.329.000 đồng. Cụ thể: Ngày 16/01/1995 trả 9.298.000 đồng, trả tiền gốc, ngày 11/3/1998 trả 2.291.000 đồng, trong đó 1.000.000 đồng tiền mặt và 1.291.000 đồng trừ tiền sản của ông D tổng là 2.291.0000 đồng; ngày 04/12/2004 trả 3.740.000 đồng.

Tòa án đã tiến hành xác minh giá vàng thời điểm 16/01/1995, 11/3/1998. 04/12/2004 tại Công ty cổ phần T2, Ngân hàng N1 chi nhánh tỉnh B, Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh B tuy nhiên không có kết quả. Tại phiên tòa, ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S thống nhất xác định giá vàng tại thời điểm năm 1995 là 500.000 đồng/chỉ, giá vàng tại thời điểm năm 1998 là 600.000 đồng/chỉ, giá vàng tại thời điểm năm 2004 là 800.000 đồng/chỉ. Như vậy, có căn cứ xác định ngày 16/01/1995 thôn T đã trả ông D 9.298.000 đồng tương đương 18 chỉ vàng, ngày 11/3/1998 thôn T trả ông D 2.291.000 đồng tương đương 4 chỉ vàng; ngày 04/12/2004 thôn T đã trả ông D 3.740.000 đồng tương đương 4 chỉ vàng. Tổng số vàng mà thôn T đã trả cho ông D là 26 chỉ vàng. Số vàng đã vay còn lại chưa trả là: 30 chỉ vàng – 26 chỉ vàng = 4 chỉ vàng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh tại thời điểm xét xử sơ thẩm giá vàng 9999 là 5.700.000 đồng/01 chỉ do vậy 4 chỉ x 5.700.000 đồng = 22.800.000 đồng. Do vậy xác định ông C và ông S còn phải trả cho ông D là 4 chỉ vàng tương đương với số tiền 22.800.000 đồng.

Từ những đánh giá trên, xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng vay vốn có hiệu lực và xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Văn S2 và ông Trần Văn C phải liên đới trả ông Thân Văn D và bà Hà Thị K số tiền là 248.809.000 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu, tám trăm linh chín nghìn đồng) là không chính xác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do vậy, cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân S, sửa bản án sơ thẩm đã xử theo hướng phân tích như trên.

[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, giải quyết các quyết định khác của bản án sơ thẩm mà không có kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm: ông D, ông S, ông C là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân S; sửa bản án dân sự sơ thẩm.

    Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 4, Điều 13, Điều 15, Điều 16 Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 52-LCT/HĐNN8 ngày 07/05/1991 về hợp đồng dân sự; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 Luật thi hành án dân sự; Xử:

    • - Tuyên bố “Hợp đồng vay vốn xã viên đầu tư công trình điện” ngày 05/01/1993 giữa ông Thân Văn D và thôn T, xã M, huyện V, tỉnh Bắc Giang do ông Trần Văn C đại diện ký bên vay là vô hiệu.

    • - Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc ông Trần Văn C và ông Trần Xuân S phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Thân Văn D 04 chỉ vàng tương đương số tiền là 22.800.000 đồng (Hai mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng). Cụ thể: ông Trần Văn C phải trả cho ông Thân Văn D 02 chỉ vàng tương đương số tiền là 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng). Ông Trần Xuân S phải trả cho ông Thân Văn D 02 chỉ vàng tương đương số tiền là 11.400.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm nghìn đồng).

    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Thân Văn D, ông Trần Văn C, ông Trần Xuân S.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Xuân S, ông Trần Văn C.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi gửi:

-VKSND tỉnh Bắc Giang;

-Toà án nhân dân TX. Việt Yên;

-Chi cục THADS TX. Việt Yên;

-Các đương sự;

-Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/DS - PT ngày 05/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 169/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger