Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 169/2025/HS-ST

Ngày: 25/6/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục rút gọn gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Phương Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 25/6/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2025/TLST - HS ngày 17/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST- HS ngày 17/6/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Chu Thị T (Tên gọi khác: Không), sinh năm: 1988; Giới tính: Nữ; HKTT và nơi ở hiện tại: Tổ G, Y, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Chu Lý Á, sinh năm 1949. Con bà: Nguyễn Thị S (đã chết). Anh, chị, em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ bảy. Chồng: Không. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh ngày 09/3/2025. Tiền án, Tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1976. Trú tại: số A, ngõ B đường T, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/5/2025, Chu Thị T (sinh năm 1988, trú tại: Tổ G, Y, phường Đ, quận H, Hà Nội, làm nghề “shipper”) nhận được đơn hàng mua hoa tại chợ H1 thuộc phường Q, quận H, Hà Nội mang đến ngã tư sở thuộc phường N, quận Đ, Hà Nội. Thìn điều khiển xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, màu trắng, BKS: 29T1-530.88 một mình đi đến quầy hoa của chị Phạm Thị H, sinh năm 1976, trú tại: M, H, Hà Nội. Lúc này, ở quầy có Phạm Tuấn A, sinh năm 2006, trú tại: M, H, Hà Nội (là cháu chị H) đang trông hàng và bán hàng giúp chị H. Thìn hỏi mua hàng và quan sát thấy Tuấn A trả tiền thừa cất tiền khách trả vào trong ngăn kéo tại quầy hàng. Thìn liền nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong ngăn kéo bàn đấy. Thực hiện ý định, T giả vờ xem hoa và dùng tay phải kéo ngăn bàn đựng tiền hàng, lấy 01 cọc tiền nhiều mệnh giá cho vào túi quần bên trái, sau đó bỏ đi. Lúc này, chị Đinh Thị N (SN 1994, trú tại: phố Đ, phường T, quận N, thành phố Hà Nội) là người bán hàng trái cây đối diện quầy hoa của chị H nhìn thấy, tri hô mọi người giữ Thìn lại, báo Công an phường Q đến, lập biên bản và đưa về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) chiếc xe xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, màu trắng, BKS: 29T1-530.88, số khung: 5310FV111639, số máy: M253M4011427;
  • - 01 (một) đăng ký xe số 019081, mang tên Hàn Công P, cấp ngày 02/02/2016 do Công an quận H cấp;
  • - Số tiền 5.014.000 đồng, gồm: 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 07 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 09 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 10 tờ tiền 50.000 đồng, 08 tờ tiền 20.000 đồng, 47 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 16 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 04 tờ tiền 1.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Phạm Thị H đã nhận lại được số tiền bị trộm cắp nên không yêu cầu Chu Thị T bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKS-HĐ ngày 16/6/2025 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Chu Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản Quyết định truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt do bị cáo hiện đang nuôi 03 con nhỏ, trong đó có 01 con mới sinh ngày 09/03/2025.

Đại diện Viện Kiểm S1 tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Trách nhiệm hình sự:

Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Chu Thị T từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập kinh tế ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng: Không.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại được số tiền bị trộm cắp nên không yêu cầu Chu Thị T bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận gì. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại: Xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của người bị hại, việc vắng mặt của người bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[3]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Chu Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ, biên bản xác định hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/5/2025, tại quầy hoa của chị Phạm Thị H, sinh năm 1976, trú tại: M, H, Hà Nội. Lúc này, ở quầy có Phạm Tuấn A, sinh năm 2006, trú tại: M, H, Hà Nội (là cháu chị H) đang trông hàng và bán hàng giúp chị H. Chu Thị T hỏi mua hàng và quan sát thấy Tuấn A trả tiền thừa cất tiền khách trả vào trong ngăn kéo tại quầy hàng. Thìn liền nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong ngăn kéo bàn. Thực hiện ý định, lợi dụng sơ hở của người bán hoa, T giả vờ xem hoa và dùng tay phải kéo ngăn bàn đựng tiền hàng, lấy 01 cọc tiền nhiều mệnh giá, tổng số tiền là 5.014.000 đồng cho vào túi quần bên trái rồi bỏ đi.

Hành vi nêu trên của bị cáo Chu Thị T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi trộm cắp là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nhưng bị cáo coi thường pháp luật, vẫn cố ý phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Chu Thị T về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự tại địa phương. Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo T được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo. Ngoài ra, hậu quả vụ án đã được khắc phục, người bị hại đã được nhận lại số tiền 5.014.000 đồng và không có ý kiến gì.

[5].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, cụ thể:

  • - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
  • -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội khi đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Ngày 26/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại số tiền 5.014.000 đồng cho người bị hại chị Phạm Thị H là có căn cứ.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Piaggio Zip, màu trắng, BKS: 29T1-530.88, chủ sở hữu hợp pháp là anh Hàn Công P, (sinh năm 1990, HKTT: Tổ A, phường Đ, quận H, Hà Nội). Anh P trình bày: chiếc xe trên là do anh mua vào năm 2016, đến năm 2021 anh P đã bán chiếc xe trên cho Chu Thị T. Việc mua bán thoả thuận miệng, không viết giấy tờ mua bán, do thời gian lâu nên không nhớ giá bán xe. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy Piaggio Zip, màu trắng, BKS: 29T1-530.88 là của Chu Thị T, không liên quan đến vụ án. Ngày 11/6/2025, cơ quan CSĐT Công an Thành phố H ra Quyết định trả lại chiếc xe trên cho Chu Thị T là có căn cứ.

[9]. Về án phí: Căn cứ 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I, Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

  • - Các Điều: 45,46,136, 260, 268, 269, 299, 326, 327, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
  • - Khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Xử phạt: Bị cáo Chu Thị T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Chu Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Toà án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

4. Án phí: Bị cáo Chu Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Chu Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người bị hại;
  • -TAND TP. Hà Nội;
  • -VKSND quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • -VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • -Chi cục THADS quận Hà Đông, TP. Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuấn

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tô Thị Kim Dung

Nguyễn Mạnh Tuấn

Nguyễn Thị Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 169/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA.169.Chu Thị Thìn.25.6.25
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger