|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2025/HNGĐ-ST Ngày 26 – 6 – 2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Chí Nhân
Ông Tạ Thanh Bự
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 230/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Hồng T, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L (Nguyễn Ái L1), sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Chị Lâm Thị Hồng T trình bày:
Về hôn nhân: Chị T chung sống với anh L1 từ năm 2009, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng không thay đổi và ly thân khoảng năm 2014 đến nay. Nay xét thấy không thể tiếp tục chung sống vì tình cảm không còn, mỗi người có cuộc sống riêng nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh L1.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Lâm Hồng M, sinh ngày 25/10/2010 do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn nguyện vọng của cháu M ở với ai thì người đó nuôi, cấp dưỡng nuôi con không đặt ra yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Tài sản chung tự thỏa thuận, về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với anh Nguyễn Văn L: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh L hợp lệ nhưng anh L không có ý kiến hay yêu cầu gì và không tham gia hòa giải, xét xử tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lâm Thị Hồng T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập tham gia xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Tại văn bản số 94/UBND-VP ngày 20/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã T thể hiện qua tra cứu tàng thư đăng ký kết hôn lưu tại Ủy ban nhân dân xã T cho đến nay không có tàng thư đăng ký kết hôn của chị T và anh L. Mặt khác, chị T cũng xác định chị và anh L chung sống với nhau từ năm 2003 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Nay chị T xin ly hôn vì quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, bất đồng đồng quan điểm, mỗi người có cuộc sống riêng, ly thân thời gian từ năm 2014 đến nay mà không thể hàn gắn. Anh L cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị T.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì “Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng...”. Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử không xem xét nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn hay anh, chị đồng ý ly hôn với nhau không mà căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa các đương sự là phù hợp.
[3] Về con chung: Cha mẹ đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Đối với Nguyễn Thị Lâm Hồng M, chị T yêu cầu theo nguyện vọng của con và con chung cũng có nguyện vọng được sống tiếp tục cùng mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phản đối yêu cầu nuôi con của chị T. Do đó, để đảm bảo các điều kiện cho con phát triển tốt nhất và không làm xáo trộn cuộc sống ổn định hiện của con chung. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung Nguyễn Thị Lâm Hồng M cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị T không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định tự thỏa thuận về phần tài sản chung và nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là đúng quy định.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lâm Thị Hồng T và anh Nguyễn Văn L.
-
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Lâm Hồng M, sinh ngày 25/10/2010 cho chị Lâm Thị Hồng T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra yêu cầu xem xét, giải quyết.
Anh Nguyễn Văn L không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị Hồng T phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001168 ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (đã nộp xong).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Ngọc Trúc |
Bản án số 169/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 169/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG
