|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2025 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Bà Võ Thị Gái
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường, vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 2351/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10013/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 148/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy T, sinh năm 1990.
Địa chỉ cư trú: Số D Đường số E, Khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1983.
Địa chỉ cư trú: Số D Đường số E, Khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông T1 vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Thay mặt Hội đồng xét xử, Chủ tọa phiên tòa công bố đơn đề nghị xét xử vắng mặt của nguyên đơn và lý do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt;
Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án, yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ kèm theo:
- Theo Đơn xin ly hôn đề ngày 01/10/2024, bản tự khai ngày 10/12/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Thùy T trình bày:
Bà Trần Thị Thùy T và ông Phạm Văn T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2013 ngày 18 tháng 6 năm 2013.
Quá trình chung sống vợ chồng, bà T và ông T1 phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về tính cách, suy nghĩ. Cả hai không thể hiểu và hòa thuận cùng nhau, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nhận thấy đời sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn T1.
Về con chung: Bà Trần Thị Thùy T và ông Phạm Văn T1 có 02 con chung: Trẻ Phạm Nguyên B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015 và trẻ Phạm Bảo N, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2019.
Bà Trần Thị Thùy T yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung là trẻ Phạm Nguyên B và trẻ Phạm Bảo N. Bà T yêu cầu công Phạm Văn T1 cấp dưỡng mỗi con chung 3.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ngày 23 tháng 01 năm 2025 bà Trần Thị Thùy T có đơn rút đối với yêu cầu ông Phạm Văn T1 cấp dưỡng mỗi con chung 3.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Bà T hiện đang cư trú tại địa chỉ: Số D Đường số E, Khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và làm việc tại Công ty TNHH T2, thu nhập ổn định khoảng 13.000.000đ/tháng nên có đủ điều kiện về nơi ở và thời gian và tài chính để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con phát triển ổn định. Bà T đề nghị Tòa chấp nhận quyền được nuôi cả hai con chung.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về nghĩa vụ dân sự: Bà T khai không có nợ chung với ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn là ông Phạm Văn T1 đã được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Văn T1 không có mặt theo yêu cầu, triệu tập của Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn, thể hiện ông Phạm Văn T1 không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T1 và giao hai con chung cho bà T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2013 đăng ký ngày 18 tháng 6 năm 2013 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Bà T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T1. Đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo kết quả xác minh của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Phạm Văn T1 thực tế có cư ngụ tại địa chỉ: Số D Đường số E, Khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng:
- Quá trình tố tụng vụ án, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa sơ thẩm là thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do; bà T có yêu
cầu giải quyết và xét xử vắng mặt nguyên đơn tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 ; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Xét theo qui định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.
Phạm vi giải quyết vụ án: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, xem xét giải quyết trong phạm vi các yêu cầu của nguyên đơn về ly hôn, quyền nuôi và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Các nội dung khác đương sự không yêu cầu thì không được xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Các quan hệ pháp luật khác về tài sản chung, nợ chung có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[3] Xét yêu cầu của đương sự:
3.1 Về quan hệ hôn nhân:
- Theo bà T trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông T1 có mâu thuẫn, có khác biệt nhau về tính cách, suy nghĩ. Cả hai vợ chồng không thể hòa hợp, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không rõ về mâu thuẫn gia đình của vợ chồng bà T, ông T1.
- Bị đơn là ông Phạm Văn T1 đã được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để trình bày ý kiến, tham gia các phiên hòa giải nhưng ông Phạm Văn T1 không có mặt theo yêu cầu, triệu tập của Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn, thể hiện ông Phạm Văn T1 không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Đời sống vợ chồng của bà T, ông T1 không hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, xét chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông Phạm Văn T1.
3.2 Về con chung: Bà Trần Thị Thùy T và ông Phạm Văn T1 có 02 con chung: Trẻ Phạm Nguyên B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015 và trẻ Phạm Bảo N, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2019.
Bà Trần Thị Thùy T yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai con chung là trẻ Phạm Nguyên B và trẻ Phạm Bảo N. Bà T chứng minh được điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: có đủ điều kiện
về nơi ở ổn định, tài chính và thời gian để trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho cả hai con phát triển ổn định thể chất và tinh thần cho các trẻ.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà T yêu cầu công Phạm Văn T1 cấp dưỡng mỗi con chung 3.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ngày 23 tháng 01 năm 2025 bà Trần Thị Thùy T có đơn rút đối với yêu cầu ông Phạm Văn T1 cấp dưỡng mỗi con chung 3.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hội động xét xử xét thấy việc rút yêu cầu của bà T là tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông T1 vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong cùng vụ án này. Trường hợp đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[4] Xét ý kiến của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử ghi nhận và thống nhất với các ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên nguyên đơn là bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (theo điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016), được cấn trừ vào tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà T đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 ; khoản 2 Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 và Điều 107, 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - bà Trần Thị Thùy T:
- - Bà Trần Thị Thùy T được ly hôn ông Phạm Văn T1.
Thời điểm chấm dứt hôn nhân giữa bà Trần Thị Thùy T và ông Phạm Văn T1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 72/2013, đăng ký ngày 18 tháng 6 năm 2013do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh kể từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Phạm Nguyên B, sinh ngày 21 tháng 8 năm 2015 và trẻ Phạm Bảo N, sinh ngày 20 tháng 11 năm 2019 cho bà Trần Thị Thùy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà T không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con.
Đình chỉ yêu cầu yêu cầu công Phạm Văn T1 cấp dưỡng mỗi con chung 3.500.000 đồng/ tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Ông Phạm Văn T1 được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Trần Thị Thùy T và các thành viên gia đình bà T không được cản trở ông T1 (không trực tiếp nuôi dưỡng) trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không được xét giải quyết trong cùng vụ án ly hôn này. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác;
- Trách nhiệm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị Thùy T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà T đã nộp theo biên lai số 0044422 ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T không phải nộp thêm án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Chí Quang |
Bản án số 169/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về ly hôn
- Số bản án: 169/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn