Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HSST

Ngày 30/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Hương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Vũ.

Ông Lã Văn Luật.

- Thư ký phiên toà: Ông Lục Đức Long – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng và điểm cầu thành phần: Phòng hỏi cung số 1 Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 152/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lương Văn V; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 17/6/1971 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng;Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12 phổ thông; Con ông: Lương Văn T (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1939; Vợ: Lục Thị P (tên gọi khác: Lục Thị P1), sinh năm 1967; Con: có 01 con, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 24/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 237/2024/HSST-QĐTG ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng; Có mặt.

2. Đàm Phương N; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 14/10/1997 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12 phổ thông; Con ông: Đàm Văn T1, sinh năm 1972 và bà: Hoàng Thu H, sinh năm 1974; Vợ, con: Không có; Tiền án:

Không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 12/12/2023, Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi Đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 24/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam theo Quyết định tạm giam số 238/2024/HSST-QĐTG ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đàm Phương N: Ông Nông Văn D - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T2 – Sở tư pháp tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Lục Thị P (Tên gọi khác: Lục Thị P1) – sinh năm 1967;

Nơi cư trú: Xóm N, xã M, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

2. Hoàng Thu H – sinh năm 1974;

Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

3. Đàm Văn T1 – sinh năm 1972;

Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 40 phút ngày 24/6/2024 tại tổ H, phường H, thành phố C, tổ công tác Công an phường H, thành phố C bắt quả tang Đàm Phương N (sinh năm 1997; trú tại: Xóm N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy vệ sinh màu nâu trắng, bên trong là 02 (hai) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu vàng có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột do N tự giác giao nộp từ túi quần đằng trước bên phải chiếc quần Nam mặc; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 11V1 – 028.24, xe cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màu đen, mặt sau có chữ REALME, số IMEI: 869720065222518/68, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Quá trình đấu tranh ban đầu N thừa nhận số ma túy bị thu giữ mua với Lương Văn V (sinh năm 1971; trú tại: tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng).

Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Lương Văn V (sinh năm 1971) tại: tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ: 01 (một) gói giấy lịch màu trắng, 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bộ, 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền Việt Nam đều được thu giữ tại kệ trên cùng tủ kính tại phòng khách chỗ ở của V; 01 (một) điện thoại di động màu xanh mặt sau có chữ Nokia, số seril: 359952644850413, điện thoại cũ đã qua sử dụng, thu giữ tại túi quần đằng trước

bên trái chiếc quần V đang mặc; 01 (một) xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 11Z1 - 5245, xe cũ đã qua sử dụng.

Hồi 16 giờ 40 phút ngày 24/6/2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng đối với tang vật thu giữ của Đàm Phương N. Kết quả: 01 (một) gói giấy vệ sinh màu nâu trắng, bên trong có chứa 02 (hai) gói nhỏ gói giấy bạc màu vàng bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột, có khối lượng là 0,10g (không phẩy một không gam). Hồi 16 giờ 40 phút cùng ngày, tiến hành cân xác định khối lượng đối với tang vật khám xét của Lương Văn V. Kết quả: 01 (một) gói giấy lịch màu trắng và 01 (một) giói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,28g (không phẩy hai tám gam).

Ngày 25/6/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra quyết định trưng cầu giám định số 898 đối với số tang vật đã thu giữ của Đàm Phương N và Lương Văn V. Tại Kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Do bản thân sử dụng ma túy và muốn được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 23/6/2024 Lương Văn V một mình đi bộ từ nhà đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C thuộc tổ A, phường T, thành phố C để tìm mua ma túy. Tại đây V gặp và mua 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền ma túy với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) được 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy. V cầm gói ma túy vừa mua được về nhà rồi chia thành 03 (ba) gói nhỏ, trong đó 01 (một) gói được gói bằng giấy lịch màu trắng và 02 (hai) gói được gói bằng giấy bạc màu vàng. Đến 09 giờ ngày 24/9/2024 Đàm Phương N gọi điện thoại cho V hỏi mua ma túy, V đồng ý, hẹn N đến khu vực N thuộc phường D, thành phố C để mua bán. Sau đó V cất 01 (một) gói giấy lịch màu trắng, 01 (một) gói giấy bạc màu vàng lên kệ trên cùng của tủ kính tại phòng khách rồi cất 01 gói giấy bạc màu vàng vào trong người, điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 11Z1 - 5245 đến địa điểm đã hẹn. Gặp N, V đưa cho N 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa Heroine, N đưa lại cho V 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, N đi tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến khu vực M thuộc phường T, thành phố C, Nam chia gói ma túy thành 02 (hai) gói và bọc lại bằng giấy vệ sinh màu nâu trắng rồi tiếp tục điều khiển xe đi tiếp. Khi đi đến khu vực tổ H, phường H, thành phố C thì bị Công an phường H kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Hành vi của Lương Văn V, Đàm Phương N đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 160/CT-VKSTP ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng quyết định truy tố: Bị cáo Lương Văn

V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đàm Phương N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của mình; nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định 395/KL-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C.

- Bị cáo Lương Văn V khai: Bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2021. Do bản thân nghiện ma túy, lười lao động nhưng vẫn muốn có ma túy sử dụng cho bản thân nên V đã trực tiếp tìm mua ma túy đem về nhà chia nhỏ, cất giấu nhằm mục đích để sử dụng dần cho bản thân và bán lại kiếm lời. V và N có quen nhau từ trước. Đối với các tài sản bị tạm giữ: Số tiền 1.000.000đ gồm 500.000₫ bị cáo lao động mà có và 500.000đ là tiền V đã bán một gói ma túy cho Nam ngày 24/6/2024; chiếc điện thoại N1 đã sử dụng để liên hệ bán ma túy với N. Chiếc xe máy Honda wave RSX màu đỏ đen là của vợ bị cáo, mong Hội đồng xét xử trả lại cho vợ bị cáo - Lục Thị P (Lục Thị P1). Bị cáo còn khai có ông nội là cụ Đàm Văn X được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất.

- Lời khai của Đàm Phương N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của Lương Văn V. Ngày 24/6/2024, bị cáo mua ma tuý với Lương Văn V để bản thân sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Đối với các tài sản bị tạm giữ bị cáo khai: Chiếc điện thoại Realme màu đen bị cáo đã sử dụng để liên hệ mua ma túy với V. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, biển kiểm soát 11V1 - 028.24 là của bố mẹ bị cáo – ông Đàm Văn T1 và bà Đàm Thu H1 đưa tiền nhờ bị cáo đi mua, ông bà không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy. Mong Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho bố mẹ bị cáo.

Theo các tài liệu trong hồ sơ và trình bày tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lục Thị P (Lục Thị P1) thể hiện: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11Z1 - 5245 là của bà (giấy đăng ký xe mang tên bà), xe mua năm 2008 bằng tiền lao động tích góp của riêng bà, V không đóng góp tiền mua chiếc xe. Năm 2016 bà và bị cáo V mới kết hôn. Khi cho mượn xe, bà không biết V sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, mong Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho bà. Ngoài ra bà còn khai: Mẹ đẻ của bà – cụ Bế Thị Đ là người có công với cách mạng. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho V để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

Theo các tài liệu trong hồ sơ và trình bày tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đàm Văn T1, bà Hoàng Thu H thể hiện: Ông T1 bà H là bố mẹ của bị cáo N. Do ông bà đã cao tuổi nên đưa tiền nhờ N đi mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11V1 - 028.24, N không hề góp tiền mua

chiếc xe này. Khi cho N mượn xe, ông bà không biết N sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, mong Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho ông bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đàm Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn V từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đàm Phương N từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng là 01 phong bì niêm phong chứa ma túy. Tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000đ là tiền bị cáo V thu lợi bất chính. Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước: 02 chiếc điện thoại di động các bị cáo đã sử dụng để giao dịch mua bán ma túy. Trả lại cho bị cáo V 500.000đ; trả lại cho ông Đàm Văn T1, bà Hoàng Thu H chiếc xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 11V1 - 028.24 do không liên quan đến hành vi phạm tội; trả lại cho bà Lục Thị P (Lục Thị P1) chiếc xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 11Z1 - 5245 do xác định là tài sản riêng của bà P trước thời kỳ hôn nhân.

Người bào chữa cho bị cáo Đàm Phương N trình bày: Nhất trí với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, quan điểm xử lý vật chứng đối với bị cáo N. Tuy nhiên, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ là 0,10 gam (ở mức khởi điểm của khung hình phạt); ông nội bị cáo được nhà nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất. Do quy định tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là quy định mở nên kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 12 tháng tù. Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật và đã có có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn án phí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm giải quyết vụ án và cho rằng: Ông bị cáo có công với cách mạng không thuộc tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có một tiền sự năm 2023 nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này. Do đó, ý kiến của người bào chữa về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo N là không thỏa đáng; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị.

Tại phần tranh luận, bị cáo N nhất trí với quan điểm bảo vệ của người bào chữa; các bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Cao Bằng về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt, quan điểm xử lý và không có ý kiến tranh luận.

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều tỏ thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung các biên bản: bắt người phạm tội quả tang, khám xét khẩn cấp, cân xác định khối lượng; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung; vật chứng; cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Hồi 09 giờ 40 phút ngày 24/6/2024 tại tổ H, phường H, thành phố C, tổ công tác Công an phường H, thành phố C bắt quả tang Đàm Phương N có hành vi tàng trữ trái phép 0,10g (không phẩy một gam) ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Số ma túy này là của N mua với Lương Văn V. Hồi 10 giờ 20 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn V thu giữ 0,28g (không phẩy hai tám gam) Heroine của V tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Do vậy, Đàm Phương N phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,10g (không phẩy một gam) Heroine; Lương Văn V phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 0,38g (không phẩy ba tám gam) Heroine.

Đây là vụ án mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma

túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với lỗi cố ý.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lương Văn V và Đàm Phương N về tội danh, điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hội đồng xét xử nhận định trong vụ án này hành vi phạm tội của các bị cáo cấu thành tội một cách độc lập, riêng biệt; không có đồng phạm. Mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự riêng, với số Heroine mà mình đã tàng trữ, mua bán trái phép.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma tuý đang ngày càng diễn biến phức tạp. Hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo đã góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma tuý ở địa phương.

[3.2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy. Bị cáo V chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo N là người có nhân thân xấu, đã có một tiền sự: năm 2023 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

[4.1] Về hình phạt chính:

Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cần căn cứ hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo để đưa ra mức hình phạt tương xứng.

Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, hiểu rõ ma túy là chất bị nhà nước cấm mua bán, sử dụng; cũng như tác hại của nó với bản thân, xã hội nhưng vẫn bất chấp quy định của pháp luật, mua bán, tàng trữ ma túy nhằm mục đích kiếm lời, sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần đưa ra mức hình phạt nghiêm khắc

mới đảm bảo cải tạo giáo dục các bị cáo, cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4.2] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định; số lượng ma túy mua bán, tàng trữ không lớn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Việc xử lý vật chứng:

Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy vì là chất cấm tàng trữ, lưu hành.

- Tịch thu của bị cáo Lương Văn V: Tiền Việt Nam 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động của các bị cáo do sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội.

- Trả lại cho bị cáo Lương Văn V: Tiền Việt Nam 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Đàm Văn T1 và bà Hoàng Thu H chiếc xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 11V1 - 028.24; trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Lục Thị P (Lục Thị P1) chiếc xe mô tô Honda wave biển kiểm soát 11Z1-5245 do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Bị cáo Lương Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đàm Phương N là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đã có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về các vấn đề khác:

[7.1] Đối với nguồn gốc số ma túy, V khai được mua với một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh.

[7.2] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, quan điểm xử lý vật chứng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nên cần được chấp nhận.

Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo N 12 tháng tù, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông của bị cáo là người có công với cách mạng không thuộc trường hợp được hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có một tiền sự năm 2023 nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân để chấp hành nghiêm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này. Do

đó, không có căn cứ chấp nhận đề nghị này. Các đề nghị khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Mẹ vợ của bị cáo V (bà Bế Thị Đ) là người có công với cách mạng không thuộc trường hợp được hướng dẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ áp dụng cho bị cáo V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh, điều luật và mức hình phạt:

[1.1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lương Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lương Văn V 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/6/2024.

[1.2] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Phương N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt Đàm Phương N 01 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 24/6/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Số 395/KL - KTHS. Hoàn mẫu vụ Đàm Phương N và Lương Văn V. Bắt ngày 24/6/2024". Mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu giáp lai của Phòng K Công an tỉnh C (Kèm theo Kết luận giám định số 402/KL- KTHS, ngày 04/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C);

Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động (loại màn hình cảm ứng), màu đen, mặt sau có chữ Realme, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chúng): 869720065222518/68 điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;

+ 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phim), màu đen, mặt sau có chữ Nokia, có số Seri 1 (Theo quyết định chuyển vật chứng) 359952644850413, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Tiền Việt Nam: 1.000.000đ (Một triệu đồng chẵn)" (Kèm theo Kết luận giám định số 417/KL - KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh C): Tịch thu sung công quỹ nhà nước 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), trả lại cho bị cáo Lương Văn V 500.000đ (năm trăm nghìn đồng);

- Trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đàm Văn T1 (sinh năm 1972) và bà Hoàng Thu H (sinh năm 1974), đều có nơi cư trú tại:

Thôn N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen bạc, biển kiểm soát 11V1 - 028.24, số khung RLHJA3921NY178127; số máy JA39E2675050. Xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, bạc màu, xe không có gương chiếu hậu. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 01/7/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe có 01 chìa khóa kèm theo);

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lục Thị P (Tên gọi khác: Lục Thị P1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm N, xã M, huyện T, tỉnh Cao Bằng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11Z1 - 5245, số khung RLHHC12368Y614202; số máy HC12E2054469. Xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, bạc màu. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 01/7/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe không có chìa khóa).

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng số 06 ngày 15 tháng 10 năm 2024.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lương Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước; miễn án phí cho bị cáo Đàm Phương N.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 169/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 09 giờ 40 phút ngày 24/6/2024 tại tổ H, phường H, thành phố C, tổ công tác Công an phường H, thành phố C bắt quả tang Đàm Phương N có hành vi tàng trữ trái phép 0,10g (không phẩy một gam) ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Số ma túy này là của N mua với Lương Văn V. Hồi 10 giờ 20 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lương Văn V thu giữ 0,28g (không phẩy hai tám gam) Heroine của V tàng trữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Do vậy, Đàm Phương N phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,10g (không phẩy một gam) Heroine; Lương Văn V phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 0,38g (không phẩy ba tám gam) Heroine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger