Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hồng Nhung và ông Nguyễn Minh Nam.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Quỳnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vòng A Chi – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024 và Thông báo “về việc thay đổi thời gian xét xử vụ án hình sự” số 51/2024/TB-TA ngày 03/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1985 tại Đồng Nai; Cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: bán vé số; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (chết) và con bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1963; Chồng: Đào Bá P1, sinh năm 1988 có 06 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 15/3/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 9.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc” và đã chấp hành xong; Bị tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 25/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Hoàng B, sinh năm 1990. (vắng mặt)
  • + Ông Đỗ Thanh H, sinh năm: 1984. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can để điều tra, quá trình điều tra bị can Nguyễn Ngọc L khai nhận như sau:

Vào khoảng tháng 1/2023 Nguyễn Ngọc L mở quầy vé số “Lan Anh” trên đường B – Giang Điền thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai để bán vé số. Hàng ngày, L đứng ra ghi số đề tại tiệm vé số “Lan A” cho người chơi, hình thức ghi số đề dựa trên kết quả xổ số của Công ty X kiến thiết các tỉnh, thành M. L dùng tập giấy bìa màu xanh hình chữ nhật kích thước 06 x 10cm để ghi số đề và số tiền đặt cược cho người đến ghi đề, sau đó L giao cho người chơi đề 01 tờ phơi và ghi chép vào tờ giấy tập học sinh để đối chiếu, ngoài ra L còn sử dụng điện thoại để liên lạc với người ghi đề thông qua tin nhắn điện thoại qua mạng xã hội “Zalo”. Hình thức và tỷ lệ thắng thua với các con bạc như sau: 01 điểm bao lô 02 số tương ứng với số tiền cược là 14.000 đồng, nếu thắng thì được nhận 70.000 đồng; 01 điểm bao lô 03 con số tương ứng với số tiền cược là 14.000 đồng, nếu thắng thì được nhận 600.000 đồng; 01 điểm số đá tương ứng với số tiền cược là 28.000 đồng, nếu thắng được nhận 700.000 đồng. Để khuyến khích các con bạc tham gia, L chủ động trừ hoa hồng cho người đến ghi số đề sẽ trả tiền thấp hơn số tiền thực tế ghi trên các tờ phơi đề. Trong ngày 19/11/2023 L đã ghi số đề thông qua điện thoại di động hiệu Samsung gắn sim số 0345.071.339 và điện thoại di động hiệu Oppo gắn sim số 0963.213.772 để nhắn tin với một số người ghi số đề, cụ thể như sau: Đỗ Thanh H nhắn tin ghi số đề bao lô số đuôi các số “80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88 và 89” với số tiền là 2.400.000 đồng (L chỉ thu 2.000.000 đồng nhưng H chưa đưa tiền ghi đề cho L); “Zalo” tên Nguyễn Hoàng g số đề bao lô số “61” với số tiền 540.000 đồng; “Zalo” tên T ghi số đề bao lô số đá 03 căp số “19 – 87 – 52” với số tiền 540.000 đồng; “Zalo” tên Lê Thúy g1 số đề bao lô số “06” với số tiền 270.000 đồng; Số điện thoại (+8490874382) tên C Già Xe ghi số đề bao lô số đá 03 cặp số “71 – 89 – 34” với số tiền 216.000 đồng; Số điện thoại (+84967723976) ghi số đề bao lô số đá 01 cặp số “37 – 77” với số tiền 360.000 đồng; Số điện thoại (+84961485051) tên Cẩm H1 ghi số đề bao lô các số “72 và 79” với số tiền 180.000 đồng/02 số, bao lô số “34” với số tiền 72.000 đồng, bao lô số “72” với số tiền 270.000 đồng, bao lô số “80” với số tiền 90.000 đồng, bao lô số “76” với số tiền 72.000 đồng, số đá 03 cặp số “79 – 34 – 72” với số tiền 108.000 đồng, số đá 03 cặp số “76 – 72 - 80” với số tiền 108.000 đồng, số đá 01 cặp số “52 - 15” với số tiền 180.000 đồng, tổng số tiền ghi đề của Cẩm H1 là 1.080.000 đồng; Đến khoảng 15 giờ ngày 19/11/2023 Nguyễn Hoàng B đến quầy vé số của L để ghi số đề, L lấy cây bút xanh ghi số đề cho B ghi bao lô các số “15, 45, 50” mỗi số 10.000 đồng, tổng số tiền là 540.000 đồng, ghi số “15” đầu 12.000 đồng và đuôi 12.000 đồng, tổng số tiền B ghi số đề là 564.000 nhưng L chỉ lấy 440.000 đồng. Khi L vừa ghi số đề cho B xong, B cầm trên tay 500.000 đồng định trả cho L thì bị Lực lượng Đội cảnh sát hình sự Công an huyện T phối hợp cùng Công an xã B phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng gồm: Số tiền 500.000 đồng thu trên tay của Nguyễn Hoàng B; Số tiền 1.350.000 đồng thu trong tủ quầy vé số, số tiền 6.600.000 đồng thu trong người Nguyễn Ngọc L; 01 cây bút bi màu xanh, 11 tập giấy bìa màu xanh hình chữ nhật kích thước 06 x 10cm (trong đó có 01 tập đang sử dụng), 01 tờ phơi đề ghi ngày 19/11/2023; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; 01 xe môtô biển số 60H1-273.65 trong cốp xe môtô có 01 tờ giấy tập học sinh ghi số đề cho các con bạc trong ngày 18/11/2023; 01 điện thoại di động hiệu Oppo và số tiền 11.740.000 đồng. Tổng số tiền ghi trong các tờ phơi đề và trong tin nhắn điện thoại ghi trong ngày 19/11/2023 là 5.970.000 đồng.

Đối với tổng số tiền ghi số đề cho nhiều người ngày 19/11/2023 là 5.970.000 đồng nhưng L chỉ mới nhận của một số người với tổng số tiền là 1.050.000 đồng, số tiền 440.000 ghi cho B thì L chưa kịp nhận.

Ngoài ra, qua kiểm tra tờ phơi đề ngày 18/11/2023 thì L đã ghi số đề cho nhiều người thông qua tin nhắn điện thoại và trực tiếp đến quầy vé số của L để ghi số đề với số tiền L đã ghi được là 2.570.000 đồng (nhưng thực tế L chỉ nhận được 2.060.000 đồng), L không nhớ tên tuổi và địa chỉ của những người đã ghi số đề vào ngày 18/11/2023 do L không lưu lại các tờ phơi đề đã ghi cho người ghi đề.

- Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 16.070.000 đồng và 01 xe môtô nhãn hiệu SH Mode biển số 60H1-273.65 của bị cáo Nguyễn Ngọc L; số tiền 60.000 đồng của Nguyễn Hoàng B. Do không sử dụng vào mục đích đánh bạc và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Ngọc L vào ngày 18/11/2023 với số tiền 2.570.000 đồng do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ngọc L theo quy định.

Ngày 10/6/2024, bị cáo tự nguyện nộp 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

Đối với Nguyễn Hoàng B và Đỗ Thanh H đã có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với các đối tượng đã có hành vi đánh bạc với bị cáo Nguyễn Ngọc L, do hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch các đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS-TB ngày 15 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

1. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Ngọc L từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công số tiền 7.060.000 đồng và 02 điện thoại di động; Tịch thu, tiêu hủy 11 tập giấy bìa màu xanh; 01 cây bút bi.

3. Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nêu trên, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 19/11/2023, tại quầy bán vé số “Lan Anh” thuộc ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Ngọc L đánh bạc trái phép với hình thức ghi số đề được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 5.970.000 đồng (năm triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng). Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc L đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đánh bạc là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác nên bị pháp luật nghiêm cấm, bị cáo biết rõ nhưng vì muốn tư lợi và nhằm mục đích tước đoạt tiền bạc của nhau, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng về an ninh trật tự, an toàn xã hội.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 15/3/2017 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt về tội ít nghiêm trọng và đã được xóa án tích từ lâu; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn; tự nguyện nộp tiền sung công nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Do bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bị cáo thật sự ăn năn hối cải và có khả năng tự cải tạo mình nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Mặt khác, bị cáo tuy có công việc ổn định nhưng thu nhập không ổn định, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 11 tập giấy bìa màu xanh; 01 cây bút bi bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 4.060.000 đồng và 02 điện thoại di động bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:

1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Đánh bạc”.

1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 19/11/2023 đến ngày 25/11/2023), cứ 01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 100 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

2. Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 7.060.000 đồng (bảy triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003525 ngày 20/3/2024 và biên lai thu tiền số 0003609 ngày 10/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom và 02 điện thoại di động (kèm theo sim).
  • - Tịch thu tiêu hủy 11 tập giấy bìa màu xanh; 01 cây bút bi.

(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2024).

3. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND H. Trảng Bom; tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra H. Trảng Bom;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - THA, lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Thị Bích Liễu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger