Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 169/2024/HS-ST

Ngày: 25/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thanh Hiền, ông Trần Ngọc Đăng

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa Lý- Kiểm sát viên.

Ngày 25/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 174/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị H; sinh năm 1982, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu K và bà Lê Thị L; có chồng thứ nhất: Nguyễn Văn T (đã ly hôn); chồng thứ hai: Nguyễn Văn C và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn P; sinh năm 1992, tại Huyện H, tỉnh Nam Định; nơi đăng ký HKTT: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: Số B, ngõ B, Chùa H, Q, quận C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH P1; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Lại Thị V1; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được tại ngoại, có mặt.
  3. Họ và tên: Nguyễn Xuân T1; sinh năm 1987, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: P, chung cư H, khối T, phường H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; đảng phái: đảng viên đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T2 và bà Nguyễn Thị L1 (Đã chết); có vợ Nguyễn Thị N và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 27/3/2024 được tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Thế N1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Bà Mai Thị T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: Xóm X, xã Đ, Thị xã T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1989.Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H làm nghề lao động tự do, có hoạt động cộng tác viên với một số công ty về lĩnh vực du học, xuất khẩu lao động. Trong thời gian H sống, lao động tại Nga có quen biết với Mai Thị T3. Đầu năm 2023, T3 có liên hệ với H để nhờ làm thủ tục cho T3 đi lao động ở Hàn Quốc bằng hình thức hợp pháp tuy nhiên H chưa làm được. Đến cuối tháng 11/2023, Nguyễn Thị H và Nguyễn Văn P liên lạc, trao đổi với nhau qua điện thoại di động (H và P quen biết với nhau từ năm 2021). Quá trình nói chuyện, P có nói cho H biết về hình thức đi Hàn Quốc theo diện đi du lịch được miễn visa với lộ trình từ Việt Nam sang Trung Quốc rồi từ Trung Quốc đi sang đảo J (Hàn Quốc), rồi trốn ở lại lao động. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Xuân T1 có liên hệ với H để nhờ làm thủ tục cho Nguyễn Thế N1 và Nguyễn Xuân H1 đi lao động Hàn Quốc (công việc do T1 sắp xếp). Nguyễn Thị H trao đổi với Nguyễn Xuân T1 và Mai Thị T3 những nội dung như Nguyễn Văn P đã nói, T3 và T1 đồng ý.

Đến khoảng ngày 10/12/2023, Nguyễn Thị H liên lạc lại với Nguyễn Văn P với nội dung: Phái làm thủ tục cho Mai Thị T3, Nguyễn Thế N1 và Nguyễn Xuân H1 xuất cảnh sang Hàn Quốc dưới hình thức đi du lịch nhằm mục đích trốn ở lại lao động; Phái sẽ xin visa du lịch Trung Quốc, lên lịch trình, đặt vé máy bay, đặt phòng khách sạn... cho ba người trên với chi phí là 50.000.000 đồng/01 người (trừ đi chi phí làm thủ tục thì P sẽ được hưởng số tiền hoa hồng từ 26.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng/01 người); hồ sơ nộp chỉ cần ảnh chân dung, Hộ chiếu, Giấy xác nhận nơi cư trú, Căn cước công dân (bản sao). P sẽ đi cùng với ba người trên đến Hàn Quốc với mục đích vừa đi chơi, làm đẹp hộ chiếu vừa để hướng dẫn, đảm bảo họ đi đúng lộ trình, khi sang đến nơi thì ba người trên trốn ở lại lao động, công việc do người của H tự sắp xếp còn P đi chơi theo lịch trình rồi quay về Việt Nam.

Sau đó, Nguyễn Thị H tiếp tục liên lạc với Mai Thị T3 và Nguyễn Xuân T1 để nói lại nội dung trên cho T3 và T1 biết; T3 và T1 đồng ý. Nếu T3 và người của T1 (Nguyễn Xuân H1 và Nguyễn Thế N1) nhập cảnh thành công vào Hàn Quốc thì tùy mối quan hệ để T3 trả chi phí hoa hồng cho H, còn T1 sẽ trả cho H 15.000.000 đồng/01 người. Nguyễn Xuân T1 liên hệ lại với H1 và N1 để trao đổi và thống nhất nội dung: T1 sẽ làm thủ tục cho H1 và N1 đi Hàn Quốc lao động dưới hình thức đi du lịch theo lộ trình Việt Nam – Trung Quốc – Hàn Quốc với chi phí là 6.500USD, tương đương từ 150.000.000 đồng đến 155.000.000 đồng (T1 kê lên 6.500USD/01 người nhằm hưởng tiền chênh lệch trong báo giá và để trả hoa hồng cho H 15.000.000 đồng/01 người); về công việc nếu H1, N1 có người quen thì tự lo còn nếu không T1 sẽ nhờ người quen tìm việc làm nông nghiệp ở Hàn Quốc với mức lương từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Sau đó, Mai Thị T3 đã gửi hồ sơ cho Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân T1 nhận hồ sơ từ Nguyễn Thế N1 và Nguyễn Xuân H1 gửi cho Nguyễn Thị H; Nguyễn Thị H nhận hồ sơ của T3, N1, H1 và gửi cho Nguyễn Văn P để P làm thủ tục. Về chi phí cụ thể như sau:

  • Nguyễn Thị H đã nhận từ Mai Thị T3 50.000.000 đồng; nhận từ Nguyễn Xuân T1 60.000.000 đồng, tổng 110.000.000 đồng. Sau đó H đã chuyển cho Nguyễn Văn P 71.000.000 đồng.
  • Nguyễn Xuân T1 đã nhận từ Nguyễn Thế N1 155.000.000 đồng; nhận từ Nguyễn Xuân H1 30.000.000 đồng. Do H1 là chú ruột của T1 nên T1 chỉ lấy 30.000.000 đồng, số tiền còn lại T1 dự định sẽ lấy của N1 bù sang. Sau khi trừ các chi phí, T1 được hưởng lợi 55.000.000 đồng. Sau đó T1 chuyển cho H số tiền như đã nêu ở trên.

Sau khi nhận hồ sơ và tiền từ Nguyễn Thị H thì Nguyễn Văn P thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với một người tên C1 có tài khoản là “Chính N2" (không biết nhân thân lai lịch cụ thể) để nhờ C1 làm thủ tục xin visa du lịch Trung Quốc cho T3, N1, H1 và P. Sau đó, P chuyển hồ sơ và số tiền mặt 9.000.000 đồng theo địa chỉ C1 cung cấp (không nhớ địa chỉ, qua đường G). Tiếp đó P lên lịch trình đi Hàn Quốc và thông qua trang web Traveloka để đặt vé máy bay cho cả bốn người (theo lộ trình Việt Nam – Trung Quốc – Hàn Quốc và ngược lại) với tổng số tiền 52.000.000 đồng và đặt phòng khách sạn lưu trú tại Trung Quốc, Hàn Quốc cho cả bốn người với số tiền 7.500.000 đồng. Phái cũng đã mua sim điện thoại quốc tế cho T3, N1, H1 với số tiền 2.000.000 đồng.

Đến khoảng ngày 26/12/2023, C1 gửi lại hộ chiếu của bốn người (T3, N1, H1 và P) cho Nguyễn Văn P qua đường G. Phái thông báo lại lịch bay cho Nguyễn Thị H đồng thời gửi hình ảnh hộ chiếu, lịch trình đi và mã cod vé máy bay của Mai Thị T3, Nguyễn Thế N1, Nguyễn Xuân H1 qua tài khoản Zalo. H thông báo và gửi hình ảnh trên lại cho T3 và Nguyễn Xuân T1 (để T1 gửi cho N1 và H1). Ngày 27/12/2023, T3, N1, H1 đi từ tỉnh Nghệ An ra sân bay N, thành phố Hà Nội gặp P, P đưa hộ chiếu cho T3, N1, H1. Ngày 28/12/2024, cả bốn người (T3, H1, N1, P) xuất cảnh từ sân bay N đến T, Trung Quốc và lưu trú tại đây cho đến ngày 31/12/2023 thì tiếp tục xuất cảnh sang đảo J (Hàn Quốc). Tuy nhiên tại sân bay đảo J (Hàn Quốc) cả bốn người bị từ chối nhập cảnh buộc phải quay về nước. Ngày 02/01/2024, khi cả bốn người trở về Việt Nam, Công an cửa khẩu Cảng Hàng không quốc tế N3 – Cục Q Bộ C2 phát hiện và yêu cầu làm việc.

Ngày 21/3/2024, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P và Nguyễn Xuân T1 đã đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

* Về vật chứng vụ án gồm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh, thu giữ của Nguyễn Văn P;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu vàng, thu giữ của Nguyễn Xuân T1;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, thu giữ của Nguyễn Thị H;
  • 01 quyển Hộ chiếu số C0117080 cấp ngày 19/3/2015 mang tên Nguyễn Xuân H1, ngày sinh: 14/3/1989, số CMND: [...];
  • 01 quyển Hộ chiếu số P00296376 cấp ngày 04/8/2022 mang tên Mai Thị T3, ngày sinh: 20/10/1968, số CMND: [...];
  • 01 quyển Hộ chiếu số P01464687 cấp ngày 19/02/2023 mang tên Nguyễn Thế N1, ngày sinh: 04/9/1984, số ĐDCN: 040084003868;
  • 01 quyển Hộ chiếu số P00538651 cấp ngày 30/9/2022 mang tên Nguyễn Văn P, ngày sinh: 08/3/1992, số ĐDCN: 036092007981.

Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Xuân T1 đã trả lại cho bà T3, anh N1, anh H1 toàn bộ số tiền mà các bị cáo đã thu. Bà T3, anh N1, anh H1 không yêu cầu gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 149/CT-VKSNA-P1 ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Xuân T1 về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài” theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các quyết định và hành vi tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan An ninh Điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Xuân T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Mặc dù không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động tư vấn, môi giới, tuyển dụng, đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài nhưng vào tháng 12/2023, Nguyễn Thị H đã cấu kết với Nguyễn Văn P và Nguyễn Xuân T1 tổ chức cho bà Mai Thị T3, anh Nguyễn Thế N1, anh Nguyễn Xuân H1 trốn sang Hàn Quốc để lao động bất hợp pháp bằng hình thức du lịch đến Trung Quốc, từ Trung Quốc đến Hàn Quốc mục đích hưởng lợi. Nguyễn Xuân T1 đã thu của anh Nguyễn Thế N1 155.000.000 đồng, thu của anh Nguyễn Xuân H1 30.000.000 đồng và chuyển cho Nguyễn Thị H 60.000.000 đồng. Nguyễn Thị H thu của bà Mai Thị T3 50.000.000 đồng, nhận của Nguyễn Xuân T1 60.000.000 đồng và chuyển cho Nguyễn Văn P 71.000.000 đồng. Nguyễn Văn P đã chi phí tổ chức cho bà Mai Thị T3, anh Nguyễn Thế N1, anh Nguyễn Xuân H1 và P đi nước ngoài hết 70.500.000 đồng. Ngày 28/12/2023, Nguyễn Văn P làm thủ tục và dẫn bà Mai Thị T3, anh Nguyễn Thế N1 và anh Nguyễn Xuân H1 xuất cảnh từ sân bay N, Hà Nội đến T, Trung Quốc lưu trú, đến ngày 31/12/2023 tiếp tục xuất cảnh sang Đ, Hàn Quốc thì bị cơ quan chức năng Hàn Quốc từ chối nhập cảnh, buộc phải quay về Việt Nam. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội "Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài" theo quy định tại khoản 1 Điều 349 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo: Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh, mà còn gây tác hại đến chính sách hợp tác lao động giữa Nhà nước ta với các nước khác, đồng thời làm xấu hình ảnh người lao động Việt Nam trong nhìn nhận, đánh giá của chính phủ các nước đối với nước ta về người lao động. Vì vậy, cần phải xử lý các bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra, làm bài học giáo dục riêng đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Thị H là người khởi xướng và tổ chức cho 03 người trốn đi nước ngoài nên bị cáo phải chịu vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn P là người thực hành tích cực nhất, trực tiếp làm các thủ tục và đưa 03 người trốn đi nước ngoài nên bị cáo có vai trò sau bị cáo Nguyễn Thị H. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 tổ chức cho 02 người trốn đi nước ngoài nên bị cáo có vai trò sau bị cáo H và P.

Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tặng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo Nguyễn Xuân T1 có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị L1 có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đạt nhiều thành tích xuất sắc được chính quyền và Đảng ủy xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An tặng nhiều giấy khen. Bị cáo Nguyễn Văn P có ông nội, cố nội có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân huy chương, bằng khen, bố bị cáo bị bệnh tâm thần và ung thư phải điều trị dài hạn. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự nên chưa cần thiết các ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Xuân T1 đã trả lại cho bà Mai Thị T3, anh Nguyễn Thế N1, anh Nguyễn Xuân H1 toàn bộ số tiền các bị cáo đã thu. Nay, bà T3, anh N1, anh H1 không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu vàng, thu giữ của Nguyễn Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị H là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;
  • Đối với 01 quyển Hộ chiếu số C0117080 cấp ngày 19/3/2015 mang tên Nguyễn Xuân H1; 01 quyển Hộ chiếu số P00296376 cấp ngày 04/8/2022 mang tên Mai Thị T3; 01 quyển Hộ chiếu số P01464687 cấp ngày 19/02/2023 mang tên Nguyễn Thế N1; 01 quyển Hộ chiếu số P00538651 cấp ngày 30/9/2022 mang tên Nguyễn Văn P là giấy tờ tùy thân của những người trên nên cần trả lại cho những người này.

[9] Đối với người tên C1 có tài khoản Facebook là “Chính N2”. Theo lời khai của Nguyễn Văn P thì P chuyển tiền cho C1 để nhờ C1 làm thủ tục xin visa du lịch Trung Quốc cho Mai Thị T3, Nguyễn Xuân H1, Nguyễn Thế N1 và P. Do P không biết rõ lai lịch, địa chỉ của C1 nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để xử lý.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 349, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thị H 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Nguyễn Văn P 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Bị cáo Nguyễn Xuân T1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài”, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Văn P cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, bị cáo Nguyễn Xuân T1 cho UBND phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo nào vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

2. Về vật chứng:

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu vàng thu giữ của Nguyễn Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen thu giữ của Nguyễn Thị H.
  • Trả lại 01 quyển Hộ chiếu số C0117080 cấp ngày 19/3/2015 mang tên Nguyễn Xuân H1 cho anh Nguyễn Xuân H1.
  • Trả lại 01 quyển Hộ chiếu số P00296376 cấp ngày 04/8/2022 mang tên Mai Thị T3 cho bà Mai Thị T3.
  • Trả lại 01 quyển Hộ chiếu số P01464687 cấp ngày 19/02/2023 mang tên Nguyễn Thế N1 cho anh Nguyễn Thế N1.
  • Trả lại 01 quyển Hộ chiếu số P00538651 cấp ngày 30/9/2022 mang tên Nguyễn Văn P cho bị cáo Nguyễn Văn P.

Đặc điểm, tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn P, Nguyễn Xuân T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan ANĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS Công an Nghệ An
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Huyện ủy Diễn Châu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh;
  • - UBND xã Hải Sơn, huyện Hải Hậu, Nam Định;
  • - UBND xã Tiến Thủy, huyện Quỳnh Lưu;
  • - Lưu HS, VP, Tòa HS.

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Hiền Trần Ngọc Đăng Nguyễn Thị Thu Từ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài

  • Số bản án: 169/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H, đồng phạm - tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger