Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-PT

Ngày 09/12/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm

Các Thẩm phán:Ông Thái Văn Hà

Ông Nguyễn Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thanh N, Nguyễn Hữu S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phan Thanh N, sinh năm 1985 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú tổ C, khu phố G, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Đình H và bà Phạm Thị Kim B; vợ là chị Trần Thị Mỹ T; có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại hiện có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Hữu S, sinh năm 1985 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú tổ C, khu phố G, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1 (chết) và bà Huỳnh Thị P; vợ là chị Phạm Thị Tuyết N1; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại hiện có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Hồ Thiện T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm A, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).
  2. Chị Lê Thị Lệ C, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm A, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Ông Trần Văn H1, sinh năm 1963; nơi cư trú thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Bị đơn dân sự: Anh Hồ Thiện T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm A, thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 08/5/2023, anh Hồ Thiện T2 chở vợ là chị Lê Thị Lệ C đến Trung tâm y tế huyện T để chị C khám thai. Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày anh T2 chở chị C về đến nhà. Lúc này, bị cáo Phan Thanh N là con rể ông H1; bị cáo Nguyễn Hữu S và anh Lê Hoàng X đang tổ chức ăn uống và hát karaoke tại nhà của ông Trần Văn H1 đối diện nhà của anh T2. Vì chị C đang mang thai nên anh T2 sang nhà ông H1 nói nhóm người tại nhà ông H1 mở nhỏ loa để C nghỉ ngơi. Sau đó giữa anh T2 với nhóm người tại nhà ông H1 xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Bị cáo S và anh T2 dùng tay đánh qua lại tại đường bê tông trước cổng nhà anh T2. Thấy vậy, bị cáo N chạy đến chỗ anh T2, dùng tay phải nắm cổ anh T2, đẩy anh T2 đi vào trong nhà của anh T2 nên anh X đi theo sau bị cáo N vào nhà anh T2 để can ngăn. Bị cáo S cũng chạy theo sau để đánh anh T2 thì chị C can ngăn lại nên bị cáo S dùng tay xô chị C làm chị C té ngã trên đường bê tông; bị cáo S tiếp tục chạy vào trong nhà anh T2. Khi vào bên trong nhà anh T2, bị cáo S và anh T2 ôm vật nhau ngã trên nền nhà, bị cáo S dùng tay cào cấu trên người anh T2. Trong lúc bị cáo S và anh T2 xô xát nhau làm ngã, gãy cây quạt và rơi sợi dây chuyền của anh T2 đang mang trên cổ. Bị cáo N dùng tay trái nhặt lấy sợi dây chuyền của anh T2, tay phải cầm đoạn thân cây quạt (đoạn giữa thân cây quạt đã bị gãy) đánh trúng vào vùng trán trái của anh T2 thì anh T2 bỏ chạy xuống nhà bếp lấy 01 cây dao thì bị cáo N, bị cáo S và anh X bỏ chạy về nhà ông H1. Bị cáo N lấy 01 cây dao từ nhà ông H1 để đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn; bị cáo N cầm sợi dây chuyền đưa lại cho chị C để trả lại cho anh T2. Sau khi sự việc đánh nhau xảy ra, chị C gọi điện thoại cho anh ruột là anh Lê Văn Đ đến nhà để chở anh T2 đi cấp cứu. Khi anh Đ đến thì anh T2 đưa cho anh Đ cầm 02 vỏ chai bia Quy Nhơn, anh T2 lấy vỏ chai bia Quy Nhơn khác ném sang nhà ông H1 làm vỡ kính cánh cửa sổ và cửa đi của nhà ông H1. Hậu quả anh Hồ Thiện T2 và chị Lê Thị Lệ C bị thương tích, được đưa đến điều trị tại Trung tâm y tế huyện T điều trị từ ngày 08/5/2023 đến ngày 15/5/2023 thì xuất viện (Tại thời điểm xảy ra sự việc, chị C đang mang thai ở tuần thứ 37); nhà ông Trần Văn H1 bị vỡ kính 01 cánh cửa đi và 01 cánh cửa sổ. Ngày 12/5/2023, anh Hồ Thiện T2 và chị Lê Thị Lệ C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 223/KLTTCT/PYBĐ ngày 01/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hồ Thiện T2 tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), cụ thể:

  • Chấn thương gây vệt trợt da đỉnh đầu, đau đầu, không tổn thương sọ trên phim X quang sọ đã điều trị. Hiện đỉnh đầu không dấu vết. Tỷ lệ 0% (Không phần trăm).
  • Chấn thương gây rách da đỉnh-trán trái đã điều trị. Hiện để sẹo vùng đỉnh-trán trái, điện não đồ biến đổi nhẹ. Tỷ lệ 06% (Sáu phần trăm).
  • Các vết xây xát da vùng mũi, má phải, tai phải đã điều trị. Hiện không để lại dấu vết và di chứng. Tỷ lệ 0% (Không phần trăm).
  • Các vết trợt da vùng cổ trái đã điều trị. Hiện để sẹo cổ trái. Tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
  • Các vết trợt da vùng vai phải, cánh tay. Hiện để hai sẹo tay phải. Tỷ lệ 03% (Ba phần trăm).
  • Vết trợt da vùng ngực phải đã điều trị. Hiện để sẹo vùng ngực phải. Tỷ lệ 01% (Một phần trăm).

Theo Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 222/KLTTCT/PYBĐ ngày 01/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thị Lệ C tại thời điểm giám định là 04% (Bốn phần trăm), cụ thể:

  • Chấn thương gây sưng nề vùng đỉnh, đau đầu, buồn nôn, không nên đã điều trị. Hiện đầu vùng đỉnh không có dấu vết, điện não đồ biến đổi nhẹ. Tỷ lệ 03% (Ba phần trăm). Vào viện van đau nhức vùng bụng, đau trằng bụng dưới, cổ tử cung đóng kín, không phát hiện bất thường thai nhi trên siêu âm đã điều trị. Hiện bụng hết đau. Tỷ lệ 0% (Không phần trăm).
  • Chấn thương gây xây xát da gối trái đã điều trị. Hiện để diện rối loạn sắc tố da gối trái, vận động gối trái trong giới hạn bình thường. Tỷ lệ 01% (Một phần trăm).
  • Chấn thương gây bầm cánh tay trái đoạn 1/3 dưới đã điều trị. Hiện cánh tay trái không có dấu vết và di chứng. Tỷ lệ 0% (Không phần trăm).

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 75/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • 01 (một) tấm kính, kích thước: (100x35x0,5)cm, loại kính trơn, không hoa văn, màu đen. Thời điểm tài sản bị xâm phạm có giá trị thành tiền 74.000 đồng.
  • 01 (một) tấm kính, kích thước: (102x19x0,5)cm, loại kính trơn, không hoa văn, màu đen. Thời điểm tài sản bị xâm phạm có giá trị thành tiền 40.000 đồng.

Tổng cộng tài sản bị thiệt hại với số tiền 114.000 đồng (Một trăm mười bốn nghìn đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã quyết định:

  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Thanh N. Xử phạt bị cáo Phan Thanh N 01 năm tù về tội “Cố ý gấy thương tích”.
  • Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hữu S. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu S 09 tháng tù về tội “Cố ý gấy thương tích”.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị cáo Nguyễn Hữu S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo

Ngày 28 tháng 6 năm 2024 bị cáo Phan Thanh N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 bị hại Hồ Thiện T2 có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố hình sự về tội “ Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Phan Thanh N.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024 bị hại Lê Thị Lệ C có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Nguyễn Hữu S, yêu cầu đình chỉ xét xử vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Thanh N và bị cáo Nguyễn Hữu S tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo; Bị hại Hồ Thiện T2 và bị hại Lê Thị Lệ C giữ nguyên nội dung xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên hủy bản án sơ thẩm hình sự số 43/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước và đình chỉ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phan Thanh N, Nguyễn Hữu S đúng quy định tại các Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, hai bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S khai nhận: Xuất phát từ mâu thuẫn giữa các bị cáo Phan Thanh N, Nguyễn Hữu S với bị hại anh Hồ Thiện T2, chị Lê Thị Lệ C về việc các bị cáo hát karaoke gây ồn ào trước nhà của vợ chồng anh T2, chị C tại thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định nên vào khoảng 15 giờ ngày 08 tháng 5 năm 2023, bị cáo Phan Thanh N đã cầm đoạn thân cây quạt đánh anh Hồ Thiện T2, bị cáo Nguyễn Hữu S xô chị Lê Thị Lệ C té ngã trong khi chi Chi đang mang thai ở tuần thứ 37. Hậu quả, anh Hồ Thiện T2 bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11%, chị Lê Thị Lệ C bị thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo Phạn Thanh N2 về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Hữu S về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “phụ nữ mà biết là có thai” theo điểm c, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của hai bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S thấy rằng: Trước khi xét xử phúc thẩm, giữa hai bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S đã tự thỏa thuận với nhau việc bồi thường thiệt hại. Bị hại anh Hồ Thiện T2 và chị Lê Thị Lệ C có đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đề nghị đình chỉ xét xử vụ án đối với hai bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo và các bị hại Ơgiữ nguyên nội dung rút yêu cầu khởi tố vụ án. Xét thấy, đây là vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, tại Bản án số 43/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước đã xét xử bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/6/2024 và ngày 14/8/2024 bị hại Hồ Thiện T2 và Lê Thị Lệ C1 có đơn rút toàn bộ đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S đồng thời cam đoan việc rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên huỷ bản án sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, đình chỉ vụ án đối với các bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng quy định pháp luật. Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S đã bồi thường dân sự cho bị hại anh Hồ Thiện T2 và chị Lê Thị Lệ C1 xong. Do đó, theo đề nghị tại Đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự ngày 14/8/2024 của anh Hồ Thiện T2 và tại phiên tòa phúc thẩm anh T2 và chị C đều thống nhất yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước trả lại số tiền mà Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S đã nộp khắc phục hậu quả. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên trả lại số tiền mà Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S đã nộp khắc phục hậu quả theo biên lai thu của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, cụ thể là: Phan Thanh N 4.000.000 theo biên lai thu tiền số 0000537 ngày 12/6/2024, Nguyễn Hữu S 2.000.000 đồng theo biên lai thu 000558 ngày 18/6/2024.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên tiêu hủy: 01 ống hình trụ rỗng, dài 45cm, có cấu tạo 02 phần: Phần làm bằng kim loại, dài 12cm, đường kính đầu kim loại 2,3cm; phần nhựa màu đen, dài 33cm, đường kính 3,1cm; 01 mảnh kính thủy tinh, màu nâu đen kích thước (0,5x12x3,5) cm. Được niêm phong trong 01 túi bằng giấy dán kín miệng, tại vị trí giáp lai có chữ ký của ông Võ Hữu H2, Trần Văn H1, Đỗ Trọng B1 và in dấu tròn của Công an xã P; 01 đế quạt bằng nhựa, màu đen, có đáy hình tròn đường kính 40 cm; 01 lồng quạt bằng kim loại, màu đen, hình tròn, đường kính 44,5cm còn gắn động cơ, bên trong lồng quạt có 07 cánh quạt màu cam.

[6] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị hại Hồ Thiện T2 và Lê Thị Lệ C mỗi người phải chịu 200.000 đồng.

[7] Về án phí phúc thẩm: Theo quy định tại điểm f khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 155, điểm d khoản 1 Điều 355, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm b khoản 1, điểm f khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Huỷ Bản án hình sự sơ thẩm số 43/2024/HS-ST ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và đình chỉ vụ án về tội “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Phan Thanh N và bị cáo Nguyễn Hữu S.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    Tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 (một) ống hình trụ rỗng, dài 45cm, có cấu tạo 02 phần: Phần làm bằng kim loại, dài 12cm, đường kính đàu kim loại 2,3cm ; phần nhựa màu đen, dài 33cm, đường kính 3,1cm; 01 (một) mảnh kính thủy tinh,màu nâu đen kích thước (0,5x12x3,5)cm. Được niêm phong trong 01 túi bằng giấy dán kín miệng, tại vị trí giáp lai có chữ ký của ông Võ Hữu H2, Trần Văn H1, Đỗ Trọng B1 và in dấu tròn của Công an xã P; 01 (một) đế quạt bằng nhựa, màu đen, có đáy hình tròn đường kính 40 cm; 01 (một) lồng quạt bằng kim loại, màu đen, hình tròn, đường kính 44,5cm còn gắn động cơ, bên trong lồng quạt có 07 cánh quạt màu cam.

    Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/3/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

  3. Về xử lý tiền bồi thường thiệt hại: Trả lại cho Phan Thanh N 4.000.000 đồng mà Phan Thanh N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000537 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước. Trả lại cho Nguyễn Hữu S 2.000.000 đồng theo biên lai thu 000558 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị hại Hồ Thiện T2 và Lê Thị Lệ C mỗi người phải chịu 200.000 đồng.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Phan Thanh N và Nguyễn Hữu S không phải chịu.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1.TANDTC;
  • - Phòng GĐKT1.TANDCC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TA, VKS, CQĐT Công an huyện Tuy Phước;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thị Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 169/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy đình chỉ vụ án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger