Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HS-PT

Ngày 18/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện

  • - Các Thẩm phán: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

  • Bà Hoàng Thị Hải Hường

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

  • - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.

Ngày 18/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 175/TLPT-HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo Cao Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

*Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Cao Văn Đ, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Ngách 127/2, số nhà D, tổ F, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Cao Văn Đ1, sinh năm 1930 (đã chết) và bà Lương Thị Y, sinh năm 1930 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1981 và có 2 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 22 ngày 10/01/1997 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích; đã chấp hành xong bản án được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt)

*Trong vụ án còn có bị hại nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cao Văn Đ sinh năm 1973 ở tổ F, phường T, quận H, thành phố Hà Nội là lái xe giao hàng của Công ty V, địa chỉ số C, ngõ F, đường N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Khoảng 13 giờ ngày 30/01/2024, Đ điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-161.82 đi từ thành phố Hà Nội đến cửa hàng của chị Phạm Thị T1, sinh năm 1989 ở số nhà F đường H, xã S, thành phố B để giao bình nóng lạnh nhãn hiệu Ferroli. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đến cửa hàng của chị T1. Đến nơi, Đ thấy xe ô tô BKS 98A-192.25 của chị T1 đang đỗ trước cửa nhà nên bảo chị T1 điều khiển xe ô tô ra vị trí khác để Đ đánh xe ô tô tải vào chuyển hàng. Do đang có khách mua hàng, chị T1 đã đưa chìa khoá xe ô tô cho Đ để nhờ điều khiển xe ô tô sang cửa số nhà F đường H, xã S, thành phố B.

Quá trình điều khiển xe ô tô của chị T1 sang cửa nhà bên cạnh, Đ phát hiện tại hộp để đồ ở giữa ghế lái và ghế phụ phía trước xe ô tô có nhiều tờ tiền. Đây là tiền hàng mà chị Thu nhận của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1983 ở số nhà B, đường T, phường T, thành phố B với tổng số tiền là 7.950.000 đồng gồm 15 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Đ nảy sinh ý định trộm cắp tiền của chị T1 nên dùng tay phải lấy nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nhưng không lấy hết, sau đó cất giấu số tiền vừa trộm cắp được vào trong túi áo đang mặc. Sau đó, Đ xuống xe và khoá cửa xe ô tô rồi trả lại chìa khoá xe cho chị T1. Tiếp đó, Đ điều khiển xe ô tô tải BKS 29C-161.82 lùi vào cửa nhà chị T1 để giao hàng. Sau khi giao hàng xong, Đ điều khiển xe ô tô tải đi về thành phố Hà Nội. Khi đi trên đường C - Bắc Giang, Đ bỏ số tiền ra kiểm đếm thì thấy trộm cắp được của chị T1 là 4.500.000 đồng gồm 09 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Đ đã sử dụng chi tiêu hết 850.000 đồng, còn số tiền 3.650.000 đồng, Đ vẫn cất trong ví mang theo bên người. Khoảng 15 giờ cùng ngày, chị T1 ra xe ô tô thì phát hiện bị mất tiền và có đơn trình báo Công an xã S, chị T1 xác định bị mất 4.500.000 đồng, chỉ còn lại 3.450.000 đồng và nghi ngờ Đ đã trộm cắp tiền.

Ngày 31/01/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Cao Văn Đ đến làm việc thì Đ đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tiền của chị T1. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đ số tiền 3.650.000 đồng gồm 07 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Đ khai số tiền trên là Đ trộm cắp của chị T1 ngày 30/01/2024, đã ăn tiêu hết 850.000 đồng, còn lại 3.650.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã cho chị Phạm Thị Thu n dạng ảnh của bị can Cao Văn Đ. Kết quả chị Thu nhận đúng ảnh và xác định Đô là người giao hàng đến nhà chị T1 vào ngày 30/01/2024 và được chị T1 đưa chìa khoá xe ô tô để nhờ điều khiển xe của chị T1 sang cửa nhà bên cạnh, sau khi Đ điều khiển xe thì chị T1 phát hiện bị mất tiền.

Cơ quan điều tra đã cho bị can xác định hiện trường, thực nghiệm điều tra. Kết quả, Đ xác định đúng vị trí để tài sản trước khi bị trộm cắp và thực hiện thuần thục hành vi trộm cắp tiền như đã khai nhận.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 3.650.000 đồng cho chị Phạm Thị T1 là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho chị Phạm Thị T1 số tiền 850.000 đồng, chị T1 không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Cao Văn Đô về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, khoản 1 và khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/01/2024 đến ngày 02/02/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2024, bị cáo Cao Văn Đ kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và trình bày:Về tội danh,điều luật áp dụng xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 tháng tù giam là nặng. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để chăm sóc gia đình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • -Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Cao Văn Đ 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  • - Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo không tranh luận, bổ sung gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn quy định của pháp luật, theo đúng quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Trong vụ án còn có bị hại là chị Phạm Thị T1 nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.

[3]Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/01/2024 tại số nhà F, đường H, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, khi được chị Phạm Thị T1 giao chìa khoá xe ô tô BKS 98A-192.25 của chị T1 để nhờ điều khiển xe sang cửa nhà bên cạnh. Quá trình điều khiển xe ô tô của chị T1, bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 4.500.000 đồng của chị T1 để tại hộp để đồ ở giữa ghế lái và ghế phụ phía trước xe.. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Cao Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy:

[4.1]Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bồi thường khắc phục hậu quả và ra đầu thú là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp giấy chứng nhận “Tổ quốc ghi công liệt sĩ Cao Xuân Đ2” là anh ruột bị cáo nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4.4] Xét thấy: Năm 1997 bị cáo bị xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án hình sự sơ thẩm số 22 ngày 10/01/1997 của Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, tại cấp phúc thẩm bị cáo giao nộp giấy chứng nhận “Tổ quốc ghi công liệt sĩ Cao Xuân Đ2” là anh ruột bị cáo nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, vừa đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo hưởng án treo.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 92/2024/HS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang và cho bị cáo Cao Văn Đ hưởng án treo.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Cao Văn Đ 07 (Bẩy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 02 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3.Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Bị cáo Cao Văn Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CA thành phố Bắc Giang
  • - Chi cục THADS tp Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HSVA;VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 169/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án HSPT Cao Văn Đ - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger