|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 169/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thành
Ông Trần Đăng Ninh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXX - HNGĐ, ngày 16/8/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 78A/TB-TA ngày 16/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh – vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Nghĩa T, sinh 1986; Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh - vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Nghĩa T là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 27/01/2016 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do tính cách cũng như quan điểm sống khác nhau. Năm 2018 anh T sang Đài Loan lao động, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn tin tưởng và quan tâm đến nhau. Nay chị Nguyễn Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Nghĩa T để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 06/9/2017, hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị Nguyễn Thị H và chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Hoàng Nghĩa T đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hoàng Nghĩa T, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của anh nhận thay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác minh thông tin về anh T thông qua bố đẻ của anh là ông Hoàng Nghĩa T1 nhưng ông T1 từ chối làm việc. Mặt khác, Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng và đăng thông tin trên phương tiện thông tin để anh Hoàng Nghĩa T biết việc chị Nguyễn Thị H có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh nhưng đến nay anh T vẫn không có ý kiến phản hồi nào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIVchấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.
Về tình cảm: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Nghĩa T; về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 06/9/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Hoàng Nghĩa T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và anh có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày hiện nay anh Hoàng Nghĩa T đang lao động tại Đài Loan nhưng chị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài. Vì vậy, Tòa án đã đề nghị Cục Q cung cấp thông tin Xuất nhập cảnh về anh Hoàng Nghĩa T và tại Công văn số 3581/QLXNC – P3, ngày 21/02/2024 của Cục Q - Bộ C xác nhận anh Hoàng Nghĩa T, sinh ngày 15/9/1986, Số Hộ chiếu B8466068 đã xuất cảnh lần cuối vào ngày 05/11/2018 và hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ngoài ra, để có căn cứ giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Hoàng Nghĩa T thông qua người thân của anh nhưng không thực hiện được nên Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh Hoàng Nghĩa T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Nghĩa T theo quy định pháp luật.
2. Về nội dung:
- Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Nghĩa T có đăng ký kết hôn vào ngày 27/01/2016 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hòa hợp, không cùng quan điểm sống và cộng với khoảng cách địa lý sống xa nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, chia sẽ lẫn nhau nhưng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Nghĩa T không đạt được mục đích đó, tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn. Do đó, cần căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Hoàng Nghĩa T.
- Về con chung: Xét thấy, hiện nay cháu Hoàng Thị Khánh L là con chung của chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Nghĩa T đang do chị H là người trực tiếp chăm sóc và cháu phát triển bình thường về thể chất, tinh thần. Còn anh Hoàng Nghĩa T hiện đang làm việc ở nước ngoài nên xét về điều kiện để gần gũi, chăm sóc con thì anh T không thể đảm bảo bằng chị H. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án cháu Hoàng Thị Khánh L cũng có đơn nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị H. Vì vậy, để không làm ảnh hưởng đến tâm lý cũng như xáo trộn cuộc sống của con chung cần giao cháu Hoàng Thị Khánh L cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Hoàng Nghĩa T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và anh có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hoàng Nghĩa T.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Thị Khánh L, sinh ngày 06/9/2017 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Hoàng Nghĩa T không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con và anh có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H1 đã nộp theo biên lai số 0000788, ngày 05/02/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Thành | Bùi Văn Lam |
| Trần Đăng Ninh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 169/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn, nuôi con)
- Số bản án: 169/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình (Ly hôn, nuôi con)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn Hoàng Hữu T
