trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2024/HNGĐ-ST

Ngày 02/7/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Bà Nguyễn Thị Phú

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 02/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai tại điểm cầu trung tâm Tòa án tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 323/2023/TLST-HNGĐ ngày 16/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31/5/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1994 (có mặt tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện Tân Yên)

Nơi thường trú: Thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu G, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh G tại Việt Nam: Thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang

Anh G hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Hoàng Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu G kết hôn với nhau ngày 05/11/2019 và đăng ký kết hôn tại U, huyện T. Việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu. Thời gian qua giữa vợ chồng đã đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu

1

thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau trong cuộc sống hằng ngày. Anh G đi nước ngoài và vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, không liên hệ gì với nhau nữa. Hiện nay chị cùng con đang sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở cùng thôn. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Hữu G được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu D, sinh ngày 07/7/2020. Hiện cháu D đang ở cùng chị, khi ly hôn đề nghị Tòa án giao cháu D cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đồng / 1 tháng kể từ thời điểm Tòa án giải quyết vụ án.

- Về tài sản chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Bị đơn là anh Hoàng Hữu G1 hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh G1 đến nay không nhận được thông tin của anh G1.

Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh G1 là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn A, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Giang, bà có ý kiến trình bày như sau: bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Hữu G, anh G hiện đang lao động tại nước ngoài, lần gần đây nhất anh G về thăm nhà là từ năm 2022. Gia đình bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh G qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh G ở nước ngoài. Anh G đã biết sự việc chị H có đơn xin ly hôn tại Tòa án nhưng anh G không về nước giải quyết được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh G vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ

2

Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Hữu G.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng anh Nguyễn Hữu G cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hữu D 2.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu D khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu G phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Hữu G. Bị đơn anh Nguyễn Hữu G có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 32099/QLXNC-P3 ngày 30/11/2023 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Hữu G đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 31/01/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Nguyễn Hữu G được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị N là mẹ đẻ của anh G xác định hiện anh G đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh G ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh G theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh G.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Nguyễn Hữu G kết hôn với nhau ngày 05/11/2019 tại UBND xã U, huyện T, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh G. Xem xét đơn khởi kiện của chị H, HĐXX thấy: Đến nay chị H và anh G đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh G

3

hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị H xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh G đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh G.

[4]. Về con chung: chị H và anh G có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu D, sinh ngày 07/7/2020 hiện đang ở cùng chị H. Anh G hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu D.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án chị H có yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi cháu D 2.000.000 đồng/ tháng. Xét thấy cháu D đang còn nhỏ, cần có đầy đủ điều kiện để cháu phát triển tốt về mọi mặt, mức cấp dưỡng chị H yêu cầu là phù hợp với mức sống trung bình của địa phương. Do vậy cần buộc anh G cấp dưỡng nuôi dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7/2024.

Sau khi ly hôn, anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị H không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu G phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức

4

thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị H được ly hôn anh Nguyễn Hữu G.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu D, sinh ngày 07/7/2020 cho chị Hoàng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Hữu G có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hữu D 2.000.000 đồng / tháng cho đến khi cháu D khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 7/2024.

    Sau khi ly hôn, anh G không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. Về án phí: chị Hoàng Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000839 ngày 16/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

    Anh Nguyễn Hữu G phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về quyền kháng cáo:

    - Anh Nguyễn Hữu G hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    - Chị Hoàng Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Việt Ngọc, huyện Tân Yên;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

5

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lý Đình Đạt

Nguyễn Thị Phú

Hoàng Thị Hải Hường

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 169/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 169/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hương ly hôn Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger