|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI Bản án số: 169/2024/DS-ST Ngày: 24-10-2024 V/v: Tranh chấp di sản thừa kế. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hường.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng.
Ông Phan Mạnh Tưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thuỳ Linh – Cán bộ Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 về Tranh chấp di sản thừa kế, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 102/2024/QĐST-DS ngày 26/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Hoàng Hòa A, sinh năm 1998.
- Địa chỉ: Tổ F, H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- - Bị đơn: ông Hoàng Tiến N, sinh năm 1960.
- Địa chỉ: đội H, thôn T, xã P, huyện M, TP Hà Nội.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933 (chết ngày 05/9/2024).
- Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + ông Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1959.
- Địa chỉ: số nhà B, tổ G, phường Đ, quận H thành phố Hà Nội.
- + bà Hoàng Thị C, sinh năm 1965.
- Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1969.
- Địa chỉ: đội H, thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1973.
- Địa chỉ: số A, ngách B K, K, quận T, TP ..
- + bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1976.
- Địa chỉ: số nhà B, cầu T, tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- + chị Hoàng Thị Bình A1, sinh năm 2004.
- Địa chỉ: tổ F, H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2, chị Hoàng Thị Bình A1: ông Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ G, Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
- + bà Phạm Thị H, sinh năm 1971.
- Địa chỉ: tổ F, H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Hoàng Tiến T:
- + ông Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1959.
- Địa chỉ: số nhà B, tổ G, Đ, quận H thành phố Hà Nội.
- + bà Hoàng Thị C, sinh năm 1965.
- Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1969.
- Địa chỉ: đội H, thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
- + Bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1973.
- Địa chỉ: số A, ngách B K, K, quận T, TP ..
(Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Nguyễn Thị Kim O, bà Phạm Thị H có mặt; người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2 và chị Hoàng Thị Bình A1 có mặt; bà Hoàng Thị T1 và bà Hoàng Thị T2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh Hoàng Hòa A trình bày:
Anh là con đẻ của ông Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1971. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông Q, bà H ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/HNGĐ-ST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật), theo đó anh được giao cho bố ông Hoàng Tiến Q chăm sóc nuôi dưỡng, em gái của anh Hoàng Thị Bình A1, sinh năm 2004 do mẹ anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Bố mẹ anh không có con nuôi, con riêng.
Trong thời gian chung sống bố mẹ anh có tạo dựng được 01 thửa đất diện tích 164m², thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Sau ly hôn bố mẹ anh có văn bản thỏa thuận đề ngày 07/11/2014 với nội dung giao thửa đất trên cho bố anh và anh được quản lý, sử dụng. Từ thời điểm đó đến khi ông Q chết, ông Q và anh là người quản lý, sử dụng không có tranh chấp.
Ông nội của anh là cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933, chết ngày 05/9/2024, bà nội của anh là cụ Đỗ Thị T3 sinh năm 1936, chết ngày 09/11/2022. Sinh thời ông bà nội của anh sinh được 06 người con gồm: ông Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1959 hiện trú tại phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, ông Hoàng Tiến N, sinh năm 1960, bà Hoàng Thị C, sinh năm 1965 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1969 đều ở thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội và bà Hoàng Thị T2, sinh năm 1973 ở SN 19D, ngách B K, K, quận T, thành phố Hà Nội và bố đẻ của anh ông Hoàng Tiến Q. Ông bà nội của anh không có con nuôi, không có con riêng.
Ngày 04/4/2016 bố của anh ông Hoàng Tiến Q chết không để lại di chúc, anh làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên thì ông nội của anh (thời điểm đó cụ T4 còn sống), ông Đ, bà C, bà T1 và bà T2 đều đồng ý giao thửa đất trên cho anh được quản lý, sử dụng. Riêng bác ruột của anh là ông Hoàng Tiến N cản trở, tranh chấp không cho anh thực hiện. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của ông Q theo quy định của pháp luật và xác nhận cho anh được thừa kế mảnh đất trên. Ngoài nhà đất trên ông Q không còn di sản nào khác.
Hiện nhà đất trên do anh đang quản lý, sử dụng, ngoài yêu cầu trên anh không còn yêu cầu nào khác.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, các lời khai tiếp theo tại Toà án và tại phiên toà, bị đơn ông Hoàng Tiến N trình bày:
Bố đẻ của ông là cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933, mẹ đẻ của ông cụ Đỗ Thị T5, sinh năm 1936 (mẹ ông chết ngày 09/11/2022). Sinh thời bố mẹ của ông sinh được 06 người con gồm: anh trai Hoàng Tiến Đ, sinh năm 1959, em trai Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 (chết năm 2016); em gái Hoàng Thị C, sinh năm 1965 và Hoàng Thị T1, sinh năm 1969 đều cu trú tại thôn T, xã P, huyện M, thânh phố Hà Nội và Hoàng Thị T2, sinh năm 1973 ở số nhà A, ngách B K, K, quận T, thành phố Hà Nội và ông là Hoàng Tiến N. Bố mẹ của ông không có con nuôi, con riêng.
Em trai của ông Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1971 là vợ chồng hợp pháp. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông Q và bà H đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/HNGĐ-ST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật) thì chị Hoàng Thị Bình A1 dược giao cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng còn anh Hoàng Hòa A dược giao cho ông Hoàng Tiến Q chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Q không có con nuôi, con riêng. Trong thời gian chung sống ông Q bà H có tạo dựng được 01 thửa đất diện tích 164m², thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đầt đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Sau ly hôn ông Q, bà H có văn bản thỏa thuận để ngày 07/11/2014 với nội dung giao thửa đất trên cho ông Q và anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Từ thời điểm đó đến khi ông Q chết, anh Hòa A và chú Q là người quản lý, sử dụng không có tranh chấp.
Ngày 04/4/2016 ông Q chết không để lại di chúc, anh Hoàng Hòa A làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên thì bố đẻ của ông là cụ Hoàng Tiến T, ông Đ và các em của ông bà C, bà T1 và bà T2 đều đồng ý giao thửa đất trên cho anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Riêng cá nhân ông không đổng ý, lý do:
Thứ 1: bà Phạm Thị H là vợ đã ly hôn, ông Hoàng Tiến Đ và cháu Hòa A có hành vi tẩu tán hết tài sản của ông Q gồm có sập, tủ chè, sập thờ, phong thư, tràng kỷ và các đổ thờ cúng khác. Để lại ba gian nhà trống trơn, không có tài sản bên trong nên khi em của ông chết không còn chỗ hương khói. Cá nhân ông rất bức xúc việc này nên khi anh Hòa A làm thủ tục xác nhận di sản thừa kế của ông Q cho anh Hòa A thì ông không đồng ý. Đối với các tài sản này cá nhân ông cũng không có đóng góp gì, không yêu cầu Tòa án phải định đoạt, phân chia các tài sản này.
Thứ 2: Đối với yêu cầu khời kiện của anh Hòa A đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của ông Hoàng Tiến Q là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 153, tờ bản đổ 03, diện tích 164m² tại địa chỉ xã P, huyện M, thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Toàn bộ nhà đất tranh chấp trong vụ án này, bản thân ông, bố mẹ của ông và các anh chị em trong gia đình không có công sức gì trong việc tạo dựng, duy trì, phát triển tài sản nên ông không có bất kỳ đòi hỏi gì. Trường hợp Tòa án chia di sản này theo quy định của pháp luật, quyền lợi của ông có được trong vụ án này ông từ chối nhận dưới bất kỳ hình thức nào (tiển, hiện vật).
Thú 3: từ khi ông Q chết đến nay, ông không có bất kỳ biều hiện gì về tranh chấp gì đối với thửa đất này, cũng như không có tranh chấp gì đối với anh Hòa A.
Hiện nhà đất trên do anh Hòa A đang quản lý, sử dụng.
Ngày 15/7/2024 Toà án tiến hành làm việc với ông Hoàng Tiến N liên quan đến lời trình bày của ông đối với các tài sản của ông Q để lại gồm sập, tủ chè, sập thờ, phong thư, tràng kỷ và các đổ thờ cúng khác và giải thích quyền, nghĩa vụ cho ông N đối với yêu cầu xác định các tài sản trên là di sản thừa kế của ông Q cũng như nghĩa vụ nộp tiền án phí, chi phí định giá tài sản của ông. Ông N có ý kiến ông có trình bày nội dung trên, tuy nhiên ông chỉ trình bày để nói rõ lý do ông không đồng ý để anh Hòa A làm thủ tục xác nhận di sản thừa kế của ông Q. Ông không đề nghị Toà án xác định các tài sản này là di sản thừa kế của ông Q, ông không đề nghị Toà án định đoạt, phân chia các tài sản này theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của cụ Hoàng Tiến T:
con trai của cụ là Hoàng Tiến Q và bà Phạm Thị H đã ly hôn năm 2013. Ông Q, bà H có 02 người con là Hoàng Hòa A và Hoàng Thị Bình A1.
Ông Q mất ngày 04/4/2016 không để lại di chúc, tài sản ông Q để lại là thửa đất số 153, tờ bản đồ 03 tại xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Nguồn gốc của thửa đất này là của ông Q và bà H tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, sau ly hôn ông Q và bà H đã thoả thuận giao cho ông Q và anh Hoàng Hòa A sử dụng. Nay anh Hòa A muốn làm thủ tục để được hưởng thừa kế của cha thì bác của cháu là Hoàng Tiến N cản trở. Cụ đề nghị Toà án xác nhận quyền thừa kế của anh Hòa A, quyền lợi của cụ ở mảnh đất này cụ cho anh Hòa A toàn bộ.
Ý kiến của ông Hoàng Tiến Đ:
Bố đẻ của ông là cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933, chết ngày 05/9/2024, mẹ đẻ của ông cụ Đỗ Thị T3, sinh năm 1936, chết ngày 09/11/2022. Sinh thời bố mẹ ông sinh được 06 người con gồm: em trai Hoàng Tiến N, sinh năm 1960, em trai Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 (chết năm 2016); em gái Hoàng Thị C, sinh năm 1965 và Hoàng Thị T1, sinh năm 1969 đều cư trú tại thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội và Hoàng Thị T2, sinh năm 1973 ở số nhà A, ngách B K, K, quận T, thành phố Hà Nội. Bố mẹ của ông không có con nuôi, con riêng.
Em trai của ông Hoàng Tiến Q và bà Phạm Thị H là vợ chồng hợp pháp. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông Q và bà H đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/DSST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật) thì chị Hoàng Thị Bình A1 được giao cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng còn anh Hoàng Hòa A được giao cho ông Hoàng Tiến Quang S nuôi dưỡng. Ông Q không có con nuôi, con riêng. Trong thời gian chung sống ông Q bà H có tạo dựng được 01 thửa đất diện tích 164m², thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Sau ly hôn ông Q, bà H có văn bản thỏa thuận đề ngày 07/11/2014 với nội dung giao thửa đất trên cho ông Q và cháu Hòa A được quản lý, sử dụng. Từ thời điểm đó đến khi ông Q chết, anh Hòa A và ông Q là người quản lý, sử dụng không có tranh chấp.
Ngày 04/4/2016 ông Q chết không để lại di chúc, anh Hoàng Hòa A làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên thì ông, bố đẻ của ông là cụ Hoàng Tiến T, các bà C, T1, T2 đều đồng ý giao thửa đất trên cho anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Riêng ông Hoàng Tiến N cản trở, tranh chấp không cho anh Hòa A thực hiện. Để bảo vệ quyền, lợi ích của anh Hòa A, ông đề nghị Tòa án xác nhận cho anh Hòa A được thừa kế mảnh đất trên, nếu ông có quyền lợi ở mảnh đất này, ông sẽ cho anh Hòa A toàn bộ.
Hiện nhà đất trên do anh Hòa A đang quản lý, sử dụng. Đề nghị quý tòa xem xet bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Hòa A.
Ngày 05/9/2024 cụ Hoàng Tiến T chết, ông, bà C, bà T1 và bà T2 đồng ý là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ T.
Ý kiến của bà Hoàng Thị C, Hoàng Thị T1 và Hoàng Thị T2:
xác nhận lời trình bày ý kiến và quan điểm giải quyết vụ án như ông Hoàng Tiến Đ đã trình bày. Đối với phần quyền lợi của các bà tại nhà đất đang tranh chấp các bà sẽ cho anh Hòa A, các bà đồng ý là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ Hoàng Tiến T.
Ý kiến của chị Hoàng Thị Bình A1:
chị là con đẻ của ông Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1971. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bố mẹ chị ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/DSST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật) thì chị được giao do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng còn anh Hoàng Hòa A được giao cho ông Hoàng Tiến Q chăm sóc nuôi dưỡng. Bố mẹ của chị không có con nuôi, con riêng. Trong thời gian chung sống bố mẹ chị có tạo dựng được 01 thửa đất diện tích 164m², thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Sau ly hôn bố mẹ chị có văn bản thỏa thuận đề ngày 07/11/2014 với nội dung giao thửa đất trên cho bố chị và anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Từ thời điểm đó cho đến khi bố chị chết, anh Hòa A và bố chị là người quản lý, sử dụng không có tranh chấp.
Ông nội của chị là cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933, bà nội chị là cụ Đỗ Thị T3, sinh năm 1936, chết ngày 09/11/2022. Sinh thời ông bà nội của chị sinh được 06 người con gồm: ông Hoàng Tiến Đ, ông Hoàng Tiến N, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2 và bố đẻ của chị ông Hoàng Tiến Q. Ông bà nội của chị không có con nuôi.
Ngày 04/4/2016 bố của chị chết không để lại di chúc, anh Hòa A làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên thì ông nội của chị, ông Đ, các cô ruột của chị đều đồng ý giao thửa đất trên cho anh trai của chị là Hoàng Hòa A được quản lý, sử dụng. Riêng bác ruột của chị là ông Hoàng Tiến N cản trở, tranh chấp không cho anh Hòa A thực hiện. Chị đề nghị Tòa án xác nhận cho anh Hòa A được thừa kế mảnh đất trên, nếu chị có quyền lợi ở mảnh đất này, chị sẽ cho anh Hòa A.
Hiện nhà đất trên do anh Hòa A đang quản lý, sử dụng. Đề nghị quý tòa xem xét bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh Hòa A.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị Kim O:
bà và ông Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963, quê quán thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội là vợ chồng hợp pháp. Ông bà tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố H ngày 05/8/2015. Sau kết hôn bà và ông Q Sinh sống, làm việc tại thành phố H, giữa bà và ông Q không có con chung, không có con nuôi, không có tài sản chung và không có nợ nần chung. Ngày 04/4/2016 ông Q mắc bệnh hiểm nghèo, qua đời và không để lại di chúc.
Về quan hệ gia đình của ông Q – chồng bà như sau: Bố đẻ của ông Q là cụ Hoàng Tiến T, sinh năm 1933, mẹ đẻ cụ Đỗ Thị T3, sinh năm 1936, chết ngày 09/11/2022. sinh thời bố mẹ chồng của bà sinh được 06 người con gồm: ông Hoàng Tiến Đ, ông Hoàng Tiến N, chồng của bà là ông Hoàng Tiến Q (chết năm 2016), bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T2 và bà Hoàng Thị T1. Cụ T và cụ T3 không có con nuôi, con riêng.
Trước khi kết hôn với bà, ông Hoàng Tiến Q và bà Phạm Thị H, là vợ chồng hợp pháp. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông Q và bà H đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/HNGĐ-ST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật). Theo Quyết định này đã giao chị Hoàng Thị Bình A1 cho bà H chăm sóc, nuôi dưỡng còn anh Hoàng Hòa A được giao cho ông Hoàng Tiến Q chăm sóc nuôi dưỡng. Như vậy chồng bà có 02 người con riêng.
Trước khi kết hôn với bà, ông Q có tài sản riêng là 01 ngôi nhà cấp 4 trên thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m², địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Đây là tài sản của ông Q và bà H, khi vợ chồng ly hôn ông Q, bà H thống nhất thỏa thuận giao tài sản này cho ông Q và anh Hòa A được quyền quản lý, sử dụng.
Ngày 04/4/2016 ông Q chết không để lại di chúc, bà được biết con trai của ông Q là anh Hoàng Hòa A làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên quan điểm của bà là đồng ý vì đây là tài sản riêng của ông Q và anh Hòa A. Ông Q chết không để lại di chúc, anh Hòa A đề nghị xác định di sản này là của anh Hòa A, bà đồng ý. Đối với phần di sản bà được hưởng tại nhà đất này bà tự nguyện cho anh Hòa A toàn bộ, bà từ chối nhận và không yêu cầu Toà án phân chia cụ thể. Ngoài tài sản trên ông Q không còn tài sản nào khác, không nợ nần gì ai.
Ý kiến của bà Phạm Thị H:
Bà và ông Hoàng Tiến Q, sinh năm 1963 ở thôn T, huyện M, thành phố Hà Nội là vợ chồng hợp pháp, do cuộc sống chung vợ chồng có quá nhiều mâu thuẫn, không có khả năng hàn gắn nên bà và ông Q đã ly hôn. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 160/2013/HNGĐ-ST ngày 29/11/2013 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình (Quyết định đã có hiệu lực pháp luật) thì anh Hoàng Hòa A được giao cho ông Hoàng Tiến Q chăm sóc nuôi dưỡng, giao con chung Hoàng Thị Bình A1, sinh năm 2004 cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà và ông Q không có con nuôi, con riêng. Trong thời gian chung sống bà và ông Q có tạo dựng được 01 thửa đất diện tích 164m², thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, địa chỉ P, M, thành phố Hà Nội, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chủ sử dụng hộ Hoàng Tiến Q. Sau ly hôn bà và ông Q có văn bản thỏa thuận đề ngày 07/11/2014 với nội dung bà giao phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà cho anh Hòa A. Do anh Hòa A ở với ông Q nên thửa đất này ông Q và anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Từ thời điểm đó đến khi ông Q chết, anh Hòa A và ông Q là trực tiếp người quản lý, sử dụng không có tranh chấp.
Về nguồn gốc nhà đất đang tranh chấp: năm 2005 bà và ông Q nhận chuyển nhượng nhà đất trên của ông Hoàng Tiến M và bà Phan Thị L với giá khoảng 30 triệu. Hiện trạng nhà đất khi nhận chuyển nhượng đã có 01 nhà cấp 4, 01 bếp, 01 bể nước, các công trình này đã cũ, dột nát và xuống cấp trầm trọng. Sau khi nhận chuyển nhượng bà và ông Q đã sửa lại nhà, bếp, tôn nền và xây thêm nhà vệ sinh như bây giờ. Nguồn tiền để mua nhà đất và cải tạo là của vợ chồng, không ai có công sức đóng góp trong việc tạo dựng, duy trì, tôn tạo nhà đất. Anh Hòa A và chị Bình A1 còn nhỏ cũng không có công sức đóng góp gì.
Ngày 04/4/2016 ông Q chết không để lại di chúc, anh Hòa A làm thủ tục khai nhận di sản thửa kế đối với thửa đất trên thì bố của ông Q là cụ Hoàng Tiến T, anh trai ruột của ông Q là ông Đ và các cô ruột của anh Hòa A đều đồng ý giao thửa đất trên cho anh Hòa A được quản lý, sử dụng. Riêng bác ruột là ông Hoàng Tiến N cản trở, tranh chấp không cho anh thực hiện. Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình anh Hòa A đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận cho anh được thừa kế mảnh đất trên. Bản thân bà xác định không còn quyền lợi, nghĩa vụ gì đối với tài sản này vì phần quyền lợi của bà đã giao cho anh Hòa A.
Hiện nhà đất trên do anh Hòa A đang quản lý, sử dụng.
Tại Công văn số 50/UBND ngày 14/8/2024 UBND xã P cung cấp về nguồn gốc thửa đất 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164 tại đội B, thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội như sau:
- + Trước năm 1983: UBND xã không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu.
- + Năm 1983: thửa đất số 304, diện tích 156m², UBND xã không còn lưu trữ sổ mục kê nên không xác định được chủ sử dụng đất.
- + Năm 1997: thửa đất số 154, tờ bản đồ 03, diện tích 164m², đứng tên hộ Hoàng Tiến M.
Năm 2005 ông Hoàng Tiến M và vợ Phan Thị L chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Hoàng Tiến Q và vợ là Phạm Thị H.
- + Năm 2009, thửa đất số 121, tờ bản đồ 14, diện tích 171,3m²đứng tên Hoàng Tiến Q và Phạm Thị H.
- * Ngày 14/8/2024 Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức tiến hành xem xét, thẩm định, định giá tài sản đang tranh chấp. Kết quả:
- Đất có tứ cận:
- Phía Đông giáp nhà đất ông Nguyễn Hữu S1.
- Phía Tây giáp nhà đất bà Nguyễn Thị H1.
- Phía Nam giáp nhà đất bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Hữu S1.
- Phía Bắc giáp ngõ xóm.
- Hiện trạng tài sản trên đất gồm:
- + 01 nhà cấp 4, 03 gian có hiên, kết cấu tường xây bằng gạch trát vôi vữa, khung mái bằng gỗ xoan + bương tre, mái lợp ngói ri. Phía hiên nhà có 01 cột trụ tròn, nền nhà láng xi măng cát, tường quét vôi ve màu xanh. 01 cửa chính bằng gỗ + lan sắt sơn màu xanh, 01 cửa sổ bằng gỗ sơn xanh, khung gỗ. Một phần hiên xây 01 gian buồng nhỏ, nhà có dấu hiệu bong tróc tự nhiên, xuống cấp, không có người ở. Xây dựng năm 1996.
- + Phía trước nhà cấp 4 là 01 bể nước xây dựng nửa nổi, nửa chìm. Kết cấu xây bằng gạch đỏ, trát xi măng, nắp đổ bê tông, phía trên có 01 bể tròn lọc, kết cấu tường xây bằng gạch trát vôi vữa.
- + Tiếp giáp nhà cấp 4 phía trước là sân trị xi măng có dấu hiệu nứt nẻ, hư hỏng, xây dựng cùng thời điểm nhà cấp 4.
- + Tiếp giáp phần sân là tường rào, khung xiên hoa đổ xi măng cao khoảng 80cm, quét vôi vàng có dấu hiệu bong tróc tự nhiên.
- + Tiếp giáp tường rào là phần đất trống có 01 cây mộc, 01 cây chanh.
- + 01 bếp: kết cấu tường xây bằng gạch đỏ + vôi vữa, khung xương mái bằng bương tre, mái lợp ngói xông cầu, cửa gỗ sơn màu xanh có dấu hiệu mục nát, nền lát xi măng. Phía trước bếp là khoảng sân trị xi măng cao hơn sân, có gờ mái tôn. Trước bếp có 01 giếng khoan.
- Giáp bếp có 01 bức tường ngăn cách với nhà vệ sinh mái lợp proximang. B và nhà vệ sinh xây dựng cùng với nhà cấp 4.
- Cổng nhà bằng khung sắt, lợp tôn lạnh, khung sắt sơn màu xanh.
- Trong nhà không có bất kỳ vật dụng, tài sản nào khác.
* Kết quả định giá:
- - Về đất: Giá cho 01m² đất ở tại thời điểm định giá là 11.000.000đ (mười một triệu đồng).
- - Về tài sản: tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, giếng khoan, sân tường, bếp, bể nước xây dựng năm 1996; mái tôn, cổng sắt xây dựng khoảng năm 2012. Các tài sản trên đều hết thời gian tính hao mòn theo quy định. Hội đồng không tiến hành định giá.
- - Cây cối: 01 cây chanh có giá 71.800đ/cây, 01 cây mộc có giá 26.300đ/cây.
Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, những người tham gia tố tụng đã chấp hành cơ bản đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 651 và 652 của Bộ luật Dân sự đề nghị HĐXX, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Hòa A. Xác định ½ thửa số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164 tại đội B, thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội là di sản thừa kế của ông Hoàng Tiến Q.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Kim O, bà Phạm Thị H, chị Hoàng Thị Bình A1, ông Hoàng Tiến Đ, Hoàng Thị C, Hoàng Thị T1, Hoàng Thị T2 và những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ Hoàng Tiến T cho phần quyền lợi của mình được hưởng cho anh Hoàng Hòa A.
Đối với phần quyền lợi của ông Hoàng Tiến N đối với di sản ông N từ chối nhận nên giao phần này cho anh Hoàng Hòa A được quyền quản lý, sử dụng.
Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng, loại tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: anh Hoàng Hòa A khởi kiện chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất với ông Hoàng Tiến N, tài sản tranh chấp tại là nhà đất có địa chỉ tại thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì xác định đây là tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
[2] Chị Hoàng Thị Bình A1, bà Hoàng Thị T1 và bà Hoàng Thị T2 vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Vì vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[3] Về thời hiệu khởi kiện và người thừa kế: anh Hoàng Hòa A, bà Nguyễn Thị Kim O, bà Phạm Thị H, chị Hoàng Thị Bình A1, cụ Hoàng Tiến T, ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2 và ông Hoàng Tiến N đều thống nhất xác nhận ông Hoàng Tiến Q chết ngày 04/4/2016, ông Q chết không để lại di chúc, nên thời điểm mở thừa kế là ngày 04/4/2016. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông Q vẫn còn.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Hoàng Tiến T xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Tiến Q gồm cụ Hoàng Tiến T, cụ Đỗ Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim O, anh Hoàng Hòa A và chị Hoàng Thị Bình A1. Cụ Đỗ Thị T3 chết năm 2022, cụ Hoàng Tiến T chết năm 2024 nên những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ gồm ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2, ông Hoàng Tiến Q, ông Hoàng Tiến N được hưởng thừa kế của hai cụ. Do ông Hoàng Tiến Q chết trước cụ T, cụ T3 nên anh Hòa A, chị Bình A1 được hưởng thừa kế thế vị của hai cụ theo quy định tại Điều 651; Điều 652 của Bộ luật Dân sự.
[4] Về di sản thừa kế là nhà cấp 4 và quyền sử dụng đất có tranh chấp tại thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
Về nguồn gốc thửa đất:
- + Trước năm 1983: UBND xã không còn lưu trữ hồ sơ, tài liệu.
- + Năm 1983: thửa đất số 304, diện tích 156m², UBND xã không còn lưu trữ sổ mục kê nên không xác định được chủ sử dụng đất.
- + Năm 1997: thửa đất số 154, tờ bản đồ 03, diện tích 164m², đứng tên hộ Hoàng Tiến M.
Năm 2005 ông Hoàng Tiến M và vợ Phan Thị L chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Hoàng Tiến Q và vợ là Phạm Thị H.
- + Năm 2009, thửa đất số 121, tờ bản đồ 14, diện tích 171,3m²đứng tên Hoàng Tiến Q và Phạm Thị H.
Quá trình giải quyết vụ án Phòng Tài nguyên và môi trường huyện M cung cấp 01 hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Về nguồn gốc thửa đất được xác định hộ ông Hoàng Tiến Q nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có danh sách nhân khẩu năm 2006. Phòng T cung cấp 01 quyển sổ hộ khẩu gia đình ông Hoàng Tiến Q xác định thời điểm nhận chuyển nhượng hộ gia đình ông Q gồm 04 nhân khẩu là ông Hoàng Tiến Q, bà Phạm Thị H, anh Hoàng Hòa A và chị Hoàng Thị Bình A1. Toà án tiến hành lấy lời khai của bà Phạm Thị H thì bà H xác định khoảng năm 2005 vợ chồng bà (thời điểm đó bà và ông Q chưa ly hôn) nhận chuyển nhượng nhà đất trên của ông Hoàng Tiến M và bà Phan Thị L. Nguồn tiền là của vợ chồng, không có ai đóng góp trong việc tạo dựng, duy trì, phát triển tài sản trên đất, các con chung là anh Hòa A và chị Bình A1 còn nhỏ không có đóng góp gì trong việc tạo dựng tài sản. Năm 2013 bà và ông Q ly hôn, bà và ông Q đã có Văn bản thoả thuận theo đó bà giao phần tài sản của mình cho anh Hoàng Hòa A. Nguyên đơn anh Hoàng Hòa A, bị đơn ông Hoàng Tiến N và toàn bộ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều xác nhận nội dung này. Như vậy di sản của ông Hoàng Tiến Q được xác định là ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế là 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hoàng Tiến Q. Ngoài ½ quyền sử dụng đất và nhà trên ông Q không còn di sản nào khác.
[5] Toàn bộ di sản là ½ quyền sử dụng đất của ông Hoàng Tiến Q.
Về giá trị quyền sử dụng đất: Hội đồng định giá thống nhất giá cho một mét vuông đất ở là 11.000.000đ/m2.
Về tài sản trên đất: tài sản trên đất là 01 ngôi nhà cấp 4, giếng khoan, sân tường, bếp, bể nước xây dựng năm 1996; mái tôn, cổng sắt xây dựng khoảng năm 2012. Các tài sản trên đều hết thời gian tính hao mòn theo quy định. Hội đồng không tiến hành định giá.
Cây cối: 01 cây chanh có giá 71.800đ/cây, 01 cây mộc có giá 26.300đ/cây.
Giá trị (188,2m x 11.000.000đồng/m² ): 2 = 1.035.100.000 đồng.
Toàn bộ di sản thừa kế của ông Hoàng Tiến Q có giá trị: 1.035.149.000 đồng.
[6] Về phân chia di sản: quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim O, chị Hoàng Thị Bình A1, cụ Hoàng Tiến T, ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2, xác nhận một phần quyền sử dụng đất và tài sản tại thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m²(đo đạc thực tế 188,2m²) là di sản của ông Q. Bản thân cụ T, bà O, chị Bình A1, ông Đ, bà C, bà T2 và bà T1 xác định có quyền lợi trong khối di sản này, tuy nhiên cụ T, bà O, chị Bình A1, ông Đ, bà C, bà T2 và bà T1 đều tự nguyện giao cho anh Hòa A toàn bộ. Ngày 05/9/2024 cụ T chết, ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2 đồng ý là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ. Ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1, bà Hoàng Thị T2, chị Bình A1 và ông Hoàng Tiến N đều có ý kiến quan điểm tôn trọng di nguyện của cụ T trước khi chết là giao toàn bộ phần di sản của cụ T được hưởng cho anh Hòa A. Đối với phần di sản của cụ T3 được hưởng của ông Q thì ông Đ, bà C, bà T1, bà T2 và chị Bình A1 đều tự nguyện giao cho anh Hòa A; đối với ông Hoàng Tiến N là bị đơn trong vụ án xác định nếu có quyền lợi gì từ vụ án ông cũng từ chối không nhận dưới bất kỳ hình thức nào (tiền, hiện vật). Xét thấy việc từ chối của ông N không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ với người để lại di sản, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những căn cứ và nhận định trên cần giao ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội, trị giá 1.035.149.000 đồng là di sản thừa kế của ông Hoàng Tiến Q cho anh Hoàng Hòa A được quyền quản lý, sử dụng.
Đối với ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội được xác định là tài sản của bà Phạm Thị H đã cho anh Hòa A theo Văn bản thoả thuận đề ngày 07/11/2014, không có tranh chấp nên giao cho anh Hòa A được quyền quản lý, sử dụng.
[7] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh Hoàng Hòa A tự nguyện nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 609; 610; 611; 612; 613; 614; 620; 623; 649; 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Hòa A. Xác định ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội, trị giá 1.035.149.000 đồng là di sản thừa kế của ông Hoàng Tiến Q. Xác định ½ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội được xác định là tài sản của bà Phạm Thị H đã tặng cho anh Hoàng Hòa A theo Văn bản thoả thuận đề ngày 07/11/2024.
2. Xác định thời điểm mở thừa kế của ông Hoàng Tiến Q là ngày 04/4/2016. Ông Hoàng Tiến Q chết không để lại di chúc, di sản của ông Q được chia theo pháp luật.
3. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Tiến Q gồm 05 người: cụ Hoàng Tiến T, cụ Đỗ Thị T3, bà Nguyễn Thị Kim O, anh Hoàng Hòa A và chị Hoàng Thị Bình A1. Cụ Hoàng Tiến T chết ngày 05/9/2024, cụ Đỗ Thị T3 chết năm 2022 nên hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ gồm: ông Hoàng Tiến Đ, ông Hoàng Tiến N, ông Hoàng Tiến Q, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T1 và bà Hoàng Thị T2. Do cụ T, cụ T3 chết sau ông Hoàng Tiến Q nên anh Hoàng Hòa A và chị Hoàng Thị Bình A1 được hưởng thừa kế thế vị phần di sản của cụ T và cụ T3.
4. Về phân chia di sản: bà Nguyễn Thị Kim O, chị Hoàng Thị Bình A1, ông Hoàng Tiến Đ, bà Hoàng Thị C, bà Hoàng Thị T2 và bà Hoàng Thị T1 đều tự nguyện giao toàn bộ phần di sản được hưởng cho anh Hoàng Hòa A. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Hoàng Tiến T tự nguyện giao toàn bộ phần di sản được hưởng của cụ T cho anh Hoàng Hòa A. Ông Hoàng Tiến N từ chối nhận di sản dưới bất kỳ hình thức nào (tiền, hiện vật).
Giao toàn bộ thửa đất số 153, tờ bản đồ 03, diện tích 164m² (đo đạc thực tế 188,2m²) địa chỉ: thôn T, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội cho anh Hoàng Hòa A được quyền quản lý, sử dụng.
Anh Hoàng Hòa A có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoàn tất thủ tục đăng ký biến động, sang tên quyền sử dụng đất theo Quyết định của bản án sơ thẩm và các quy định khác của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7; 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về án phí:
Anh Hoàng Hòa A tự nguyện nộp 43.054.470đ (bốn mươi ba triệu, không trăm năm mươi tư nghìn, bốn trăm bảy mươi đồng ) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo số biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 29270 ngày 19/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Số tiền anh Hoàng Hòa A còn phải nộp là 28.054.470đ (hai mươi tám triệu, không trăm năm mươi tư nghìn, bốn trăm bảy mươi đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hường |
Bản án số 169/2024/DS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp di sản thừa kế.
- Số bản án: 169/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế
