Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 170/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Hữu Thỏa.
  2. Ông Đậu Cao Nhu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Kim Trình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 181/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn T (tên gọi khác: không); sinh năm: 1992 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H và bà: Nguyễn Thị T1; vợ: Phan Thị L và 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh ngày 06/8/2023; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 23/6/2023 đến ngày 02/7/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Hà Thị L1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: K, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Khu Đ, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
  3. Anh Phạm Thế D, sinh năm 2000. Nơi cư trú: D, ngõ A phường L, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  4. Anh Đinh Công H1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
  5. Chị Đinh Thị T2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
  6. Anh Lê Văn T3, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Làng Nội, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
  7. Anh Phạm Văn L2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Xóm F Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua hình thức rao bán số lô, số đề trên mạng Internet. Khoảng tháng 5/2021, Phạm Văn T lập kênh Y có tên “Thần Đề 2021” (có lúc đổi tên là “Thần Đề”) đăng tải video tự quay với nội dung phân tích, dự đoán, soi cầu số lô, số đề, nhận định, đánh giá kết quả xổ số Miền Bắc. Triều gắn số điện thoại 0336.435.xxx đăng ký tài khoản zalo “Thần Đề” và 0896868536 đăng ký zalo “Phong Hạnh” để mọi người kết bạn zalo. Sau khi có người kết bạn zalo, T nhắn tin yêu cầu những người này muốn được cho số lô, số đề “Chuẩn” thì phải trả phí theo mức giá: ngày (từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng), tuần (từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng), tháng (từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng). Để người tham gia chuyển tiền phí và tiền lộc cho mình, T mua số tài khoản 21222777 Ngân hàng Á (A1) mang tên “PHẠM THỊ HẠNH” và số tài khoản 001881592885 Ngân hàng Q3 (MB) mang tên “TRẦN THỊ AN”.

Chị Hà Thị L1, anh Nguyễn Tiến Đ, anh Phạm Thế D, anh Đinh Công H1, chị Đinh Thị T2, anh Lê Văn T3, anh Phạm Văn L2 sau khi vào kênh youtube “THẦN ĐỀ” của T. Thấy những lời quảng cáo cam kết trúng thưởng cao của T, tin tưởng nên đã kết bạn zalo và chuyển tiền cho T. T đã chiếm đoạt số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng), cụ thể:

Từ ngày 20/3/2022 đến ngày 26/12/2022, chị Đinh Thị T2 chuyển 12 lần với tổng số tiền 36.000.000 đồng.

Ngày 24/8/2022, anh Phạm Thế D chuyển số tiền 2.000.000 đồng.

Ngày 05/10/2022, anh Nguyễn Tiến Đ chuyển số tiền 2.000.000 đồng.

Từ ngày 18/7/2022 đến ngày 15/9/2022, anh Lê Văn T3 chuyển 06 lần với tổng số tiền 23.000.000 đồng.

Ngày 12/12/2022, anh Đinh Công H1 chuyển số tiền 4.000.000 đồng.

Ngày 13/4/2023, anh Phạm Văn L2 chuyển số tiền 5.000.000 đồng.

Ngày 18/5/2023, chị Hà Thị L1 chuyển số tiền 3.000.000 đồng.

Sau khi tìm hiểu biết mình bị lừa, chị Hà Thị L1, anh Nguyễn Tiến Đ, anh Phạm Thế D, anh Đinh Công H1, chị Đinh Thị T2, anh Lê Văn T3, anh Phạm Văn L2 làm đơn trình báo đến Công an tỉnh N và Công an huyện Q.

Ngày 23/6/2023, Phạm Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N bắt trong trường hợp khẩn cấp.

Bản cáo trạng số 168/CT-VKS-QL ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố Phạm Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 24-30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48-60 tháng.

Hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, 01 (một) máy vi tính xách tay nhãn hiệu Acer của bị cáo. Tịch thu, tiêu hủy 02 (hai) thẻ ATM ngân hàng.

Trách nhiệm dân sự: không xem xét.

Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận, có con đang nhỏ, xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương để có cơ hội được sửa chữa làm người có ích, nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến tháng 5/2023, T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của chị Hà Thị L1 số tiền 3.000.000 đồng, anh Nguyễn Tiến Đ số tiền 2.000.000 đồng, anh Phạm Thế D số tiền 2.000.000 đồng, anh Đinh Công H1 số tiền 4.000.000 đồng, chị Đinh Thị T2 số tiền 36.000.000 đồng, anh Lê Văn T3 số tiền 23.000.000 đồng, anh Phạm Văn L2 số tiền 5.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác với tổng số tiền 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng), bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự. Phạm tội với lỗi cố ý, vì mục đích tư lợi. Nên Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội có tình tiết tăng nặng phạm tội từ 02 lần trở lên. Có tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bà nội bị cáo (bà Nguyễn Thị Q) được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Xét thấy bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương, cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Hình phạt bổ sung: bị cáo là lao động tự do, có thu nhập không ổn định, đang nuôi con nhỏ, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[5] Xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus và 01 (một) máy vi tính xách tay nhãn hiệu ACER, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 02 (hai) thẻ ngân hàng bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại chị Hà Thị L1 số tiền 4.000.000 đồng, anh Nguyễn Tiến Đ 2.000.000 đồng, anh Phạm Thế D 2.000.000 đồng, anh Đinh Công H1 4.000.000 đồng, chị Đinh Thị T2 36.000.000 đồng, anh Lê Văn T3 23.000.000 đồng, anh Phạm Văn L2 5.000.000 đồng. Các bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự, nên không xem xét.

[7] Những vấn đề khác: Đối với hành vi lừa đảo chị Hà Thị L1 để chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng vào ngày 09/3/2023, và 500.000 đồng vào ngày 10/3/2023, Công an huyện Q đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T. Anh Lê Văn T3 tự nguyện chuyển cho Triều tiền lộc 3.000.000 đồng, nên T không phải chịu trách nhiệm hình sự về số tiền này. Bị hại mua số lô, số đề sử dụng vào mục đích mua xổ số kiến thiết Miền Bắc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với số tài khoản 21222777 Ngân hàng Á (A1) mang tên “PHẠM THỊ HẠNH” và số tài khoản 001881592885 Ngân hàng Q3 (MB) mang tên “TRẦN THỊ AN”, nhưng chị Trần Thị A không có mặt tại địa phương, tại địa chỉ ngân hàng cung cấp không có ai tên Phạm Thị H2. Đối với giao dịch chuyển tiền giữa T với anh Phạm Đức Q1, chị Nguyễn Thị C, anh Phạm Sơn L3, anh Lê Nam H3, anh Phan Thành N, những người này không nhớ chuyển tiền cho T với nội dung gì. Đối với các giao dịch chuyển tiền liên quan đến anh Hà Công Đ1, anh Đỗ Ngọc Q2, anh Nguyễn Văn T4, anh Lương Tiến T5, những người này, không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã có văn bản thông báo truy tìm bị hại trên cả nước nhưng đến nay chưa có kết quả, do đó, không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng. Về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

  2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, 01 (một) máy vi tính xách tay nhãn hiệu Acer của bị cáo Phạm Văn T. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư bên trong có 02 (hai) thẻ ATM. Tình trạng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu.
  3. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CA huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHA Dân sự huyện Quỳnh Lưu;
  • - THA hình sự;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND xã Ngọc Sơn (để biết);
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ + Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 170/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 170/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Tr phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger