Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 1689/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024

V/v "Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Huỳnh Tiến Dũng
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị T – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 2163/2023/TLST– HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1552/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 2181/QĐH-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1995.

Thường trú: Số A đường F, Khu phố C, Phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng).

2. Bị đơn: Ông Lý Hoàng T2, sinh năm 1992.

Thường trú: Số A đường F, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T1 trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lý Hoàng T2 tự nguyện chung sống có tổ chức cưới hỏi và đăng ký kết hôn vào năm 2013 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau kết hôn vợ chồng sống tự lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, ban đâu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng khoảng một, hai năm sau đó bắt đâu phát sinh mâu thuẫn về lối sống, thường xuyên nhậu nhẹt, ham vui bạn bè, hay đập và dùng vũ lực với vợ, không quan tâm tới vợ con. Mặc dù bà đã cố gắng hoà giải nhưng cả hai vẫn không thể kiêm chế được nỗi bức xúc mỗi khi chung sống trong cùng một mái nhà. Cuộc sống của bà giờ rất ngột ngạt điều này gây ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ và tâm lý của hai con. Bà và ông T2 đã ly thân hơn 2 năm nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu câu được ly hôn.

- Về con chung: Có hai con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 07/10/2012 và Lý Hoàng M, sinh ngày 18/11/2016. Bà yêu câu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không yêu cầu ông T2 phải cấp dưỡng nuôi các con chung.

- Về tài sản chung: Xác định không có.

- Về nợ chung: Xác định không có.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, bà Nguyễn Ngọc T1 có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên các yêu câu đã trình bày trước đây.

* Bị đơn ông Lý Hoàng T2 đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo và giấy triệu tập về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án, cũng không có ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Vê tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên còn vi phạm thời hạn xét xử.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Lý Hoàng T2 cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điêu 35, điểm a khoản 1 Điêu 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Bà Nguyễn Ngọc T1 có đơn yêu câu vắng mặt; theo quả xác minh, Công an phường T trả lời ông Lý Hoàng T2 có hộ khẩu thường trú tại Số A đường F, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đi đâu không rõ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng nêu trên để giải quyết vụ án, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điêu 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T1 và ông Lý Hoàng T2 tự nguyện đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 24/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06 tháng 3 năm 2013. Căn cứ Điêu 8, Điêu 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông, bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu của bà T1 vê việc được ly hôn với ông T2, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo trình bày của đương sự tại bản tự khai và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do T2 sống vô tâm, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên nhậu nhẹt, đánh chửi vợ con. Mặc dù hai vợ chồng sống tại nhà của gia đình bà T1 nhưng ông T2 thường xuyên gây gổ với gia đình vợ. Bà T1 đã cho nhiều cơ hội mà ông T2 không thay đổi. Tình trạng mâu thuẫn kéo dài và đã vượt quá sức chịu đựng của bà. Bà T1 xác định, hai vợ chồng đã ly thân. Trong quá trình ly thân, ông bà không ai có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình. Xét thấy, vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tuy nhiên, theo những gì bà T1 trình bày cho thấy quan hệ hôn nhân của ông, bà hiện tại đã lâm vào tình trạng nghiêm trọng. Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lân nhưng ông T2 không đến toà, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ để xác nhận hoặc phản bác yêu cầu của nguyên đơn. Điều này cho thấy ông T2 cũng không còn sự quan tâm, không thể hiện được thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà T1. Như vậy, có căn cứ xác định yêu cầu ly hôn của bà T1 là có cơ sở chấp nhận.

[4].Về con chung: Căn cứ vào giấy khai sinh số 105/2013, Quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01 tháng 4 năm 2013 và giấy khai sinh số 319, Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24 tháng 11 năm 2016 có cơ sở xác bà Nguyễn Ngọc T1 và ông Lý Hoàng T2 có hai con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 07/10/2012 và Lý Hoàng M, sinh ngày 18/11/2016.

Xét yêu cầu nuôi con chung của bà T1: Bà T1 có công việc thu nhập ổn định, có chỗ ở ổn định, hai cháu có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Bà T1 hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con và từ nhỏ tới giờ các con đều do bà T1 chăm sóc. Nên yêu câu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung của bà T1 là có cơ sở để chấp nhận.

Vê cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T1 không yêu cầu ông T2 cấp dưỡng nuôi con.

[5].Về tài sản chung: Bà T1 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6]. Vê nợ chung: Bà T1 tự xác định không có.

[7]. Vê án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điêu 28, điểm a khoản 1 Điêu 35, điểm a khoản 1 Điêu 39, Điêu 147, Điêu 186, điểm b khoản 2 Điêu 227, khoản 1, khoản 3 Điêu 228, Điêu 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, Điêu 56, Điêu 57, Điêu 58, Điều 81, Điêu 82, Điêu 83 và Điêu 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu câu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc T1
    1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T1 được ly hôn với ông Lý Hoàng T2.
    2. Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc T1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Lý Hoàng P, sinh ngày 07/10/2012 và Lý Hoàng M, sinh ngày 18/11/2016. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Ngọc T1 không yêu cầu ông Lý Hoàng T2 cấp dưỡng nuôi con chung.

      Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyên, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyên thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyên yêu câu Toà án hạn chế quyên thăm nom con của người đó.

      Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết cha, mẹ hoặc cơ quan tổ chức có quyên yêu câu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 5 Điêu 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    3. Về tài sản chung: Bà T1 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    4. Về nợ chung: Bà T1 tự xác định không có
  2. Vê án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Ngọc T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiên tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2023/0005134 ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân Thành phố Thủ Đức. Bà Nguyễn Ngọc T1 đã nộp đủ án phí.
  3. Vê quyên kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyên kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thỏa thuận thi hành án, quyên yêu câu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điêu 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM
  • - Sở Tư pháp TP. HCM
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thủ Đức;
  • - Cơ quan THA.HS Công an TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Bị cáo; - NCQL, NVLQ;- Lưu: Hồ sơ, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1689/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1689/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger