Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:1689/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26/6/2025

V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Hương Thuỷ
  • 2. Bà Nguyễn Thị Chi

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 504/2025/TLST-HNGĐ ngày 07/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4515/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 5377/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991

Địa chỉ: Số B Đường số H, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Bùi Ngọc Q, sinh năm 1991

Địa chỉ: Số B Đường số H, Khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tại phiên tòa: Bà T (xin vắng mặt), ông Q (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 21/02/2025, Bản tự khai, Biên bản không tiến hành hoà giải được, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Ngọc Q chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 08/3/2016.

Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, về tính cách. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm và thường xuyên tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Bùi Ngọc Q.

Về con chung: Có 01 con tên Bùi Nguyễn Phúc D, sinh ngày 11/9/2017. Hiện con chung đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Bà T tự nguyện không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Quá trình tiến hành tố tụng: Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn – ông Bùi Ngọc Q không đến Tòa để giải quyết vụ án. Do vậy, không thu thập được lời khai của ông Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với bị đơn – ông Bùi Ngọc Q. Do ông Q có nơi cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn xin vắng mặt, Bị đơn – ông Bùi Ngọc Q vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ lời khai của đương sự cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kiểm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Ngọc Q chung sống với nhau và đăng ký kết hôn ngày 08/3/2016 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Chứng nhận kết hôn số 26. Do đó, hôn nhân giữa bà T và ông Q là hợp pháp. Quá trình chung sống, bà T và ông Q đã không còn hạnh phúc, đời sống gia đình xảy ra xung đột nhưng cả hai đã không tìm được tiếng nói chung, không tạo điều kiện cho nhau để hàn gắn tình cảm, hiện đã sống ly thân. Quá trình tiến hành tố tụng, ông Q không đến Tòa để giải quyết vụ án nên không thu thập được lời trình bày của ông Q, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, qua kiểm tra tại phiên tòa để làm căn cứ giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử, xét thấy mục đích hôn nhân của bà T và ông Q không đạt được, mâu thuẫn đến nay đã trầm trọng nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Q là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Nguyễn Phúc D, sinh ngày 11/9/2017. Hiện bà T đang là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung nên để ổn định cuộc sống và việc học của con, Hội đồng xét xử giao bà T là người trực tiếp nuôi con chung. Bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí.

[5] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Luật phí và lệ phí năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • - Luật thi hành án dân sự.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn ông Bùi Ngọc Q.

Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Nguyễn Phúc D, sinh ngày 11/9/2017. Giao bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi con. Bà T không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Ông Bùi Ngọc Q được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T khai không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0083627 ngày 06/3/2025, do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố, Thành phố Hồ Chí Minh lập. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Bùi Ngọc Q được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. Thủ Đức;
  • - CCTHADS Tp. Thủ Đức;
  • - Cơ quan ĐKKH;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Quốc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1689/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1689/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh Trúc, Bùi Ngọc Quang - Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger