|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1681/2025/DS-PT
Ngày: 26 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Đa.
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
Bà Trần Thị Thanh Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Khang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 1169/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6604/2025/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Vũ Duy B, sinh năm 1958; địa chỉ: Số C N, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường H, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
+ Ông Triệu Đăng K, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A ấp V, xã V, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là phường V, tỉnh Cà Mau), là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21/7/2023); có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
+ Ông Bùi Tấn T, sinh năm 1972; địa chỉ: Số A N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 28/4/2023); có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Hồ Phương T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); địa chỉ liên hệ: Số A đường L, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
+ Ông Phạm Đức B1 – Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị Bích N – Luật sư Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
Người kháng cáo: bị đơn bà Lê Hồ Phương T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Tại đơn khởi kiện ngày 15/6/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Ông Vũ Duy B cho bà Lê Hồ Phương T1 vay tiền nhiều lần, tính đến ngày 16/10/2020 tổng số tiền vay là 2.000.000.000 đồng; hai bên thỏa thuận ký Giấy vay tiền ngày 16/10/2020, số tiền vay là 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 2%/tháng.
Từ lúc vay tiền đến nay bà T1 không trả tiền gốc, tiền lãi cho ông B. Ông B khởi kiện yêu cầu bà T1 trả số tiền nợ gốc 2.000.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật 1,66%/tháng, tính từ ngày 17/10/2020 đến ngày trả xong nợ.
Bị đơn bà Lê Hồ Phương T1 trình bày:
Bà T1 không quen biết ông B, không biết ông B là ai và không vay tiền của ông B. Vào ngày 16/10/2020, buổi sáng bà T1 làm giấy xác nhận độc thân ở UBND phường, buổi chiều bà T1 ký hợp đồng chuyển nhượng đất của bà T1 cho bà Nguyễn Thị Tố U tại Văn phòng C. Bà T1 không gặp ông B, không biết ông B là ai. Bà T1 yêu cầu ông B phải chứng minh ai là người lập giấy vay tiền, giấy vay tiền được lập ở đâu, thời gian nào và yêu cầu ông B chứng minh chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền là của bà T1, yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu vì ông B xác định khoản nợ bà T1 vay trước ngày 16/10/2020. Ngoài ra, bà T1 không thừa nhận chữ ký, chữ viết và dấu lăn tay trong Giấy vay tiền ngày 16/10/2020 và xác định không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết và dấu lăn tay trong giấy vay tiền ngày 16/10/2020, vì đó là nghĩa vụ của nguyên đơn, nguyên đơn là người phải yêu cầu giám định.
Tại Bản án dân sự số 83/2025/DS-ST ngày 05/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Duy B đối với bị đơn bà Lê Hồ Phương T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
-Buộc bà Lê Hồ Phương T1 phải trả cho ông Vũ Duy B số tiền 3.954.444.444 đồng; trong đó tiền nợ gốc 2.000.000.000 đồng và tiền lãi 1.954.444.444 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 11/9/2025, bị đơn bà Lê Hồ Phương T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm;
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến tranh luận: Bà T1 xác định không biết ông B, không gặp ông B nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ tại Mobile phone B2 để xác định trong ngày 16/10/2020 bà T1 và ông B có liên lạc với nhau qua điện thoại hay không? Không thu thập chứng cứ là giấy xác nhận độc thân do bà T1 làm ngày 16/10/2020 tại UBND phường (giấy này đang lưu giữ tại Văn phòng C); không giám định dấu vân tay theo yêu cầu của bà T1. Tòa án cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, chưa đủ chứng cứ để giải quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy bản án sơ thẩm để thu thập chứng cứ cho đấy đủ, để có căn cứ giải giải quyết vụ án.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Giấy vay tiền ngày 16/10/2020 có chữ viết, chữ ký và dấu vân tay của bà T1; bà T1 đã gửi đơn yêu cầu giám định dấu vân tay trong “Giấy vay tiền” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện yêu cầu giám định theo yêu cầu của bà T1 và cũng không có văn bản trả lời lý do không giám định. Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không thu thập đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án, không giám định dấu vân tay theo yêu cầu của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 3 Điều 308 hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông B khởi kiện bị đơn bà T1 để yêu cầu bà T1 trả tiền vay theo “Giấy vay tiền” lập ngày 16/10/2020, số tiền vay 2.000.000.000 đồng, lãi suất vay 02%/tháng. “Giấy vay tiền” có chữ ký, chữ viết của ông B, bà T1 và có dấu lăn tay của bà T1; Giấy vay tiền không có công chứng hoặc chứng thực, bà T1 không thừa nhận vay tiền của ông B, không thừa nhận chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của bà T1 trong “Giấy vay tiền”.
Do bà T1 không thừa nhận chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của bà T1 trong “giấy vay tiền” nên “giấy vay tiền” chỉ là nguồn chứng cứ như quy định tại khoản 1 Điều 94 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 10 Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc xác định chứng cứ là “Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định”.
“Giấy vay tiền” ngày 16/10/2020 giữa ông B và bà T1 không có công chứng hoặc chứng thực nên chưa phải là chứng cứ; do đó, người đưa ra văn bản, tài liệu chưa phải là chứng cứ thì phải có trách nhiệm chứng minh, trong đó có việc yêu cầu giám định và nộp tạm ứng chi phí giám định.
[1.2] Theo yêu cầu của nguyên đơn ông B, Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông B, bà T1 trong “Giấy vay tiền” ngày 16/10/2020 và giám định “Giấy vay tiền” có bị cắt, ghép, in đè nội dung hay không?. Tại Kết luận giám định số 2191/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phân viện kỹ thuật hình sự của Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận “chữ ký và chữ viết trong tài liệu giám định là của bà T1, không xác định được chữ ký chữ viết giữa hai bên trong tài liệu giám định có cùng thời điểm hay không; tài liệu giám định không có dấu hiệu cắt, ghép, không xác định loại mực của dấu vân tay....”.
Ông B không yêu cầu giám định dấu vân tay của bà T1 trong giấy vay tiền, Tòa án cũng chưa giám định dấu vân tay của bà T1.
Quá trình tố tụng đối với vụ án, trong các ngày 28/4/2023 và 04/5/2023, bà T1 gửi đơn yêu cầu giám định dấu vân tay của bà T1 trong “Giấy vay tiền” ngày 16/10/2020 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện yêu cầu giám định của bà T1 và cũng không có văn bản trả lời lý do không giám định là vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 22 của Luật Giám định tư pháp (được sửa đổi, bổ sung năm 2018 và năm 2020).
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông B khởi kiện yêu cầu bà T1 trả số tiền vay 2.000.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật; ông B chứng minh bằng giấy vay tiền ngày 16/10/2020. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xác định giấy vay tiền do bà T1, ông B ký ngày 16/10/2020 tại nhà ông B.
Bà T1 trình bày không biết ông B là ai, không thừa nhận ký tên lăn tay vào giấy vay tiền ngày 16/10/2020. Bà T1 chứng minh ngày 16/10/2020 không đi ra
khỏi Bình Dương, vì sáng ngày 16/10/2020 bà T1 phải đến UBND phường làm giấy xác nhận độc thân và chiều ngày 16/10/2020 đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị Tố U (Hợp đồng số 7806 ngày 16/10/2020) với giá 1.000.000.000 đồng. Ngoài ra, trong vụ án ly hôn giữa bà T2 và ông S mà Tòa án đã giải quyết theo Quyết định số 496/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/11/2020 thì bà T1 là người có liên quan được bà T2 trả số tiền nợ 1.592.500.000 đồng. Ông Phạm Hoàng L là người đại diện theo ủy quyền của bà T1 trong việc thi hành án đối với quyết định trên, ông L có cùng địa chỉ của ông B. Sau này ông L đại diện cho ông B đi kiện bà T1, bà T1 nghi ngờ ông L lừa bà T1 ký một số giấy tờ khống trong quá trình thi hành án rồi làm thêm nội dung để cho ông B kiện bà T1 đòi tiền.
Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, chứng cứ chưa rõ ràng. Tòa án cấp sơ thẩm không phân tích, đánh giá vai trò của ông L trong vụ án, thời gian địa điểm ký giấy vay tiền,....là thiếu sót. Ngày 16/10/2020, bà T1 ký giấy vay số tiền 2.000.000.000 đồng nhưng cũng trong ngày 16/10/2020 bà T1 phải làm thủ tục xác nhận độc thân và ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà U giá 1.000.000.000 đồng?. Dấu vân tay của bà T1 trong giấy vay tiền chưa được giám định; bà T1 yêu cầu giám định dấu vân tay của bà T1 trong giấy vay tiền là phù hợp quy định của pháp luật. Dấu vân tay của bà T1 chưa được giám định nhưng Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “kết quả giám định đúng chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trong giấy vay tiền đúng là của bà T1” là chưa đúng với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[3] Do cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng và để đảm bảo chứng cứ cần được xem xét, đánh giá ở 02 cấp Tòa án như quy định tại Điều 17 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cần phải hủy bản án sơ thẩm; giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án cho đúng quy định của pháp luật.
[4] Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc hủy bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 148, Khoản 3 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Hồ Phương T1;
2. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2025/DS-ST ngày 05/9/ 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh; chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết lại vụ án cho đúng pháp luật.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Hồ Phương T1 không phải nộp. Trả cho nguyên đơn bà Lê Hồ Phương T1 số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0017905 ngày 17/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Minh Đa |
Bản án số 1681/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 1681/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
