Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HSST

Ngày 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng và bà Ngô Thị Thúy.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Hoàng Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Lê Huỳnh Việt Long, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 04/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 164/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024, đối với các bị cáo:

  1. HÀ THU HIỀN, sinh ngày 09/3/2000, tại Phú Thọ; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu E, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn T và bà Hà Thị H; chưa có chồng, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 15/01/2024, hiện đang tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

  2. HOÀNG NGỌC QUANG, sinh ngày 14/4/2000, tại Thái Nguyên; đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 89-QĐ/UBKTHU ngày 06/6/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Đ2); dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ và bà Lâm Thị T1; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 15/01/2024, hiện đang tại ngoại tại địa phương, bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).

Người làm chứng:

  • - Anh Trần Viết N, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
  • - Anh Đặng Văn T2, sinh năm 1994, địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
  • - Anh Vũ Đặng Việt C, sinh năm 1982, địa chỉ: Tổ B, thị trấn Q, huyện M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  • - Chị Lý Ngọc M, sinh năm 2000, địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Thu H1 và Hoàng Ngọc Q là nhân viên hợp đồng có thời hạn tại Công ty cổ phần T4. Trong đó: H1 là nhân viên phòng pháp chế của Công ty, đồng thời là người đại diện theo pháp luật tại của địa điểm kinh doanh số 22 H, địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố T, Q được phân công làm quản lý và có 01 nhân viên là Lý Ngọc M. Quá trình làm việc, Công an thành phố T thông báo địa điểm kinh doanh số 22 Happy Money do H1 làm đại diện phải hoàn thiện thủ tục đăng ký phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ. Nên H1 có nhu cầu làm Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cho bản thân H1, Q và M để hoàn hiện thủ tục đăng ký phòng cháy, chữa cháy. Khoảng đầu tháng 11 năm 2023, thông qua người quen giới thiệu H1 biết tài khoản mạng xã hội Z “Trần V” có thể làm giả chứng nhận trên. H1 gọi điện, nhắn tin từ tài khoản Zalo “Hà Thu H1” của H1 đến tài khoản Zalo “Trần V” được lưu tên trong ứng dụng Z là “Van Tran làm chứng chỉ pccc” để thuê làm Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ và thống nhất giá hoàn thiện là 900.000 đồng/01 chứng nhận thì được tài khoản “Trần Vân” đồng ý. Ngày 20/12/2023, H1 sử dụng ứng dụng Zalo nhắn tin cho Q, yêu cầu Q, M cung cấp ảnh căn cước công dân cho H1 qua tài khoản Zalo. Sau đó, H1 chuyển hình ảnh căn cước công dân của H1, Q, M kèm tên của Công ty Cổ phần T4 đến tài khoản Zalo “Trần V”. Nhận được thông tin từ H1 gửi, tài khoản Zalo “Trần Vân” hẹn sẽ trả kết quả sau 02 đến 05 ngày. Ngày 21/12/2023 H1 đã chuyển khoản số tiền 2.700.000 đồng đến tài khoản 19037106450015 mang tên Trần Thị V1 tại Ngân hàng TMCP K2 (T5), nội dung chuyển khoản: Chứng chỉ PCCC. Đồng thời, H1 gửi địa chỉ phòng giao dịch số B Happy M để tài khoản Zalo “Trần V1” gửi giấy chứng nhận đến phòng giao dịch cho Hoàng Ngọc Q nhận.

Ngày 23/12/2023, khi Q nhận được bưu phẩm do shipper chuyển đến. Q mở ra kiểm tra bên trong có 03 (ba) giấy “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” gồm các giấy chứng nhận: Số 4788416 mang tên Lý Ngọc M; số 4788418 mang tên Hoàng Ngọc Q; số 4788419 mang tên Hà Thu H1. Các giấy chứng nhận đều ghi do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy cấp ngày 12/12/2023, chữ ký ghi do Đại tá Nguyễn Minh K ký, có đóng dấu tròn đỏ ghi Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an thành phố H.

Đến ngày 29/12/2023, Q tiếp tục nhận được 03 “Chứng chỉ đào tạo” số 158/QĐ-TT2, số vào số 78, 79, 80, có chữ ký của đại tá Nguyễn Thành L ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q. Sau khi nhận được 03 chứng chỉ nêu trên, Q chụp ảnh và gửi ảnh qua tài khoản Zalo cho H1 xem thì H1 yêu cầu Q cất 03 chứng chỉ trên tại văn phòng kinh doanh số B Happy M chờ chỉ đạo tiếp theo.

Ngày 05/01/2024, H1 sử dụng ứng dụng Z gọi điện thoại bảo Q mang theo 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” được làm giả cùng hồ sơ phòng cháy, chữa cháy đến gặp đồng chí Đặng Văn T2, cán bộ đội quản lý hành chính Công an thành phố T để hoàn thiện hồ sơ. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Q đến Công an thành phố T gặp đồng chí T2 thì được đồng chí T2 hướng dẫn đến Công an phường H, thành phố T để nộp, do hồ sơ trên thuộc thẩm quyền của Công an phường H, thành phố T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Q mang theo 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” được làm giả cùng hồ sơ phòng cháy, chữa cháy đến gặp và xuất trình cho đồng chí Trần Viết N, Phó trưởng Công an phường H, thành phố T. Sau khi kiểm tra hồ sơ, đồng chí N phát hiện 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” do Q xuất trình có dấu hiệu bị làm giả nên đã tạm giữ 03 Chứng nhận trên (niêm phong ký hiệu A1, A2, A3) và yêu cầu Q đến Công an thành phố T để phối hợp xác minh làm rõ sự việc.

Tại Kết luận giám định số 157/KL-KTHS ngày 07/01/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T, kết luận:

Hình dấu, chữ ký trên “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” ký hiệu A1, A2, A3 là giả, bằng phương pháp in phun màu.

Phôi “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” ký hiệu A1, A2, A3 làm bằng phương pháp phun in màu.

Hồi 12 giờ 55 phút ngày 06/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc của Hoàng Ngọc Q, tại số nhà G đường H thuộc tổ A, phường H, thành phố T. kết quả thu giữ:

  • - 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 78, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Lý Ngọc M, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: H, thành phố T, Thái Nguyên. (Niêm phong ký hiệu Q3).
  • - 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 79, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hà Thu H1, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: C, V, Phú Thọ. (Niêm phong ký hiệu Q2).
  • - 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 80, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hoàng Ngọc Q, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: Hòa Bình, Đ, Thái Nguyên. (Niêm phong ký hiệu Q1).

Tại bản kết luận giám định số 515 ngày 12/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận: 03 (Ba) “Chứng chỉ đào tạo” ký hiệu Q1, Q2, Q3 là thật.

Tiến hành làm việc với Phòng cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (PC07) Công an thành phố H được cung cấp: Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ không cấp chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ cho Hà Thu H1, sinh năm 2000, số CMND: [...]; Hoàng Ngọc Q, sinh năm 2000, số CMND: 01920009115; Lý Ngọc M, sinh năm 2000, số CMND: [...] vào ngày 12/12/2023. Các số phôi giấy chứng nhận số: 4788416; 4788418; 4788419 không thuộc danh sách quản lý của Phòng Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Công an thành phố H. Danh sách học viên được cấp giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ ngày 12/12/2023 không có tên Hà Thu H1, Lý Ngọc M và Hoàng Ngọc Q.

Tại cơ quan điều tra Hà Thu H1 và Hoàng Ngọc Q khai nhận: Q, H1, M được đào tạo trực tuyến và được cấp chứng chỉ đào tạo do trường Đại học Phòng cháy, chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023 nhưng chứng chỉ trên không có giá trị sử dụng để làm hồ sơ phòng cháy, chữa cháy. Do chưa được đào tạo huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ để được cấp chứng nhận nên H1 đã đặt mua 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” giả của tài khoản Zalo “T” sau đó chuyển phát đến văn phòng 22 Happy Money cho Q nhận. Sau khi nhận, Q biết 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” trên được làm giả nhưng vẫn thực hiện theo chỉ đạo của H1 mang đi xuất trình cho Công an phường H, thành phố T nhằm mục đích qua mặt cơ quan chức năng trong việc cấp hồ sơ liên quan đến lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với Biên bản làm việc, Kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án, không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định và việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Vật chứng của vụ án: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, Số Imeil: 356564100183115; Số Imei2: 356564100130652, đã qua sử dụng thu giữ của Hà Thu H1; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, Số I: 352840110604363; Số Imei2: 352840110641894, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Ngọc Q;

- 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 78, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Lý Ngọc M, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: H, thành phố T, Thái Nguyên; 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 79, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hà Thu H1, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: C, V, Phú Thọ; 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 80, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hoàng Ngọc Q, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: Hòa Bình, Đ, Thái Nguyên.

Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

- 01 (Một) bì niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” số 4788416, 4788418, 4788419 ghi do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Bộ C1 cấp ngày 12/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hoàng Ngọc Q, Hà Thu H1. Hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án

Bản cáo trạng số 161/CT-VKS-TPTN ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q, về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:

  1. Tuyên bố bị cáo Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 động nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  4. Về vật chứng vụ án:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, Số Imeil: 356564100183115; Số Imei2: 356564100130652, đã qua sử dụng thu giữ của Hà Thu H1; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, Số I: 352840110604363; Số Imei2: 352840110641894, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Ngọc Q;
    • - Trả lại cho Hà Thu H1 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 79, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Hà Thu H1; Hoàng Ngọc Q 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 80, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Hoàng Ngọc Q; trả lại cho chị Lý Ngọc M 01 (Một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 78, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Lý Ngọc M.
    • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) bì niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” số 4788416, 4788418, 4788419 ghi do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Bộ C1 cấp ngày 12/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hoàng Ngọc Q, Hà Thu H1.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được áp dụng hình phạt là phạt tiền để bị cáo rèn luyện, trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 20/12/2023, Hà Thu H1 đặt mua 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” giả của tài khoản Z “Trần V1”. Sau đó, nhờ tài khoản Zalo “Trần V1” chuyển phát đến Văn phòng B, địa chỉ: số G, đường H thuộc tổ A, phường H, thành phố T cho Hoàng Ngọc Q nhận.

Ngày 05/01/2024, Hà Thu H1 gọi điện qua ứng dụng Zalo bảo Hoàng Ngọc Q mang 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” giả ghi số 4788416, 4788418, 4788419 do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ - Bộ C1 cấp ngày 12/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hoàng Ngọc Q, Hà Thu H1 đến xuất trình cho Công an phường H, thành phố T nhằm mục đích qua mặt cơ quan chức năng trong việc cấp hồ sơ liên quan đến lĩnh vực phòng cháy chữa cháy.

Hành vi nêu trên của Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội có căn cứ pháp luật, điều luật có nội dung như sau:

1. Người nào ...sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, xâm phạm hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, gây bất bình trong nhân dân, tạo dư luận xấu trong xã hội.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo đều thành khẩn khai báo và có thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy, các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1 trong quá trình học tập đạt thành tích cao được tặng thưởng nhiều giấy khen, năm 2021 được Ban Chấp hành Hội sinh viên trường Đại học L1 chứng nhận danh hiệu Sinh viên 5 tốt; bị cáo Q trong quá trình thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự có nhiều thành tích, đạt danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và ông nội của bị cáo là ông Hoàng Văn K1 có công lao trong kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ Luật Hình sự.

[6] Về mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt, có việc làm, có thu nhập ổn định, có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, chỉ cần áp dụng mức hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời, tạo điều kiện một lần để cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình, tiếp tục phấn đấu, rèn luyện trở thành công dân tốt cho xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm, là có căn cứ chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, đã qua sử dụng thu giữ của Hà Thu H1 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Ngọc Q. Những chiếc điện thoại này H1, Q đã sử dụng để nhắn tin, gọi điện giao dịch, trao đổi việc mua bán giấy chứng nhận giả cần tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với 03 chứng chỉ đào tạo: Số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 79, do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Hà Thu H1; Số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 80, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Hoàng Ngọc Q; Số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 78, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, ghi tên Lý Ngọc M. Quá trình điều tra xác định H1, Q, M đã được đào tạo trực tuyến và được trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp chứng chỉ đào tạo, các chứng chỉ này là thật, do vậy cần trả lại cho Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q và chị Lý Ngọc M quản lý, sử dụng.

Đối với 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” số 4788416, 4788418, 4788419 ghi do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Bộ C1 cấp ngày 12/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hoàng Ngọc Q, Hà Thu Hiền T3 là chứng chỉ giả, là vật chứng của vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[10] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản mạng xã hội Zalo “Trần V1” là người bán 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” giả cho H1 và là chủ tài khoản 19037106450015 mang tên Trần Thị V1 tại Ngân hàng TMCP K2 (T5). Kết quả xác minh đối tượng tên Trần Thị V1 chủ tài khoản 19037106450015 tại Ngân hàng TMCP K2, có địa chỉ tại: Căn hộ A – 2110 dự án đầu tư xây dựng Tháp Thủ đô xanh, thuộc tổ dân phố E, phường M, quận N, thành phố Hà Nội, tại thời điểm xác minh đối tượng V1 đã bán nhà, không còn cư trú tại địa điểm trên. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ, nếu có căn cứ thì xử lý theo quy định.

[11] Đối với chị Lý Ngọc M là người cung cấp các thông tin cá nhân cho Hoàng Ngọc Q, để Q gửi cho Hà Thu H1 đặt mua “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” giả mang tên Lý Ngọc M. Quá trình điều tra xác định, khi cung cấp thì chị M không biết các thông tin cá nhân của bản thân được H1 sử dụng để đặt mua “Chứng nhận” giả. Đồng thời, chị M cũng không xuất trình các “Chứng nhận” trên cho lực lượng Công an nên chị M không đồng phạm với Hà Thu H1 và Hoàng Ngọc Q, cơ quan điều tra không xử lý đối với chị M, xét thấy là phù hợp.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q, mỗi bị cáo 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, Số Imei1: 356564100183115; Số Imei2: 356564100130652, đã qua sử dụng, trong bì niêm phong ký hiệu “DT”, thu giữ của Hà Thu H1; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, Số I: 352840110604363; Số Imei2: 352840110641894, đã qua sử dụng, trong bì niêm phong ký hiệu “H”, thu giữ của Hoàng Ngọc Q.
    • - Trả lại cho chị Lý Ngọc M 01 (một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 78, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Lý Ngọc M, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: H, thành phố T, Thái Nguyên;
    • - Trả lại cho Hà Thu H1 01 (một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 79, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hà Thu H1, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: Chu Hóa, V, Phú Thọ;
    • - Trả lại cho Hoàng Ngọc Q 01 (một) chứng chỉ đào tạo số 158/QĐ-TT2, số vào sổ 80, ghi do trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Bộ C1 cấp ngày 28/12/2023, có chữ ký ghi tên Đại tá Nguyễn Thành L, có đóng dấu tròn đỏ ghi Đại học Phòng cháy chữa cháy, chứng chỉ ghi tên Hoàng Ngọc Q, sinh năm 2000, CCCD: [...], nơi thường trú: Hòa Bình, Đ, Thái Nguyên;
    • - Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 202 ngày 27/6/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
    • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (Một) bì niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa 03 “Chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ” số 4788416, 4788418, 4788419 ghi do Cục Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Bộ C1 cấp ngày 12/12/2023 mang tên Lý Ngọc M, Hoàng Ngọc Q, Hà Thu H1.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc Hà Thu H1, Hoàng Ngọc Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND TP. Thái Nguyên;
  • - Công an TP. Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 168/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger