Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 5- 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hải Yến và ông Hoàng Phương Nam.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trương Bảo Long, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Thọ, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST–HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hoàng Đình T, sinh ngày 02/9/2000, tại tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Sinh viên; nơi thường trú và nơi ở hiện nay: K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thổ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình L, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1970; vợ, con chưa có. Gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. Có mặt.

2. Trần Hoàng V, sinh ngày 16/10/2000, tại tỉnh Quảng Nam; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Sinh viên; nơi thường trú: Xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở hiện nay: Số A đường A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn H, sinh năm 1972 và bà Trà Minh A, sinh năm 1976; vợ con chưa có. Gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. Có mặt.

3. Trần Quang N, sinh ngày 16/9/1997, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Sinh Viên; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số C đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Quang Ất E, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1972; vợ con chưa có. Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. Có mặt.

4. Đào Kim N1, sinh ngày 30/4/1988, tại tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số C đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Tấn T1, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 1963; vợ Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1987; có 02 con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020. Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 cho đến nay. Có mặt.

* Bị hại: Trần Hải Hồ N2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Chí Q, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường Đ, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

  • - Trường Thất H2, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A đường H, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • - Hồ Tấn T3, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A đường Đ, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • - Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1973; địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/3/2022, tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Trần Hải Hồ Nam mượn xe mô tô biển số 37P1-21367 của Hoàng Đình T để làm phương tiện đi lại. Đến tối cùng ngày, T phát hiện N2 đưa xe mô tô của mình ra thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, để bán nên T đến Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để trình báo sự việc. Đến trưa ngày 15/3/2022, T báo cho Trần Hoàng V, Trần Quang N biết sự việc trên và thống nhất cùng nhau ra thành phố H để tìm bắt N2 đưa vào Cơ quan Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để làm rõ sự việc. V, N đồng ý; V rủ thêm Đào Kim N1 cùng tham gia, N1 đồng ý. Thực hiện ý định, V dùng điện thoại di động nhắn tin cho N2 với nội dung có đơn hàng giá trị 0 đồng của S gửi cho N2 để dụ N2 gặp nhóm V. N2 đồng ý nhận hàng tại khu vực đường Đ, thành phố H.

Để di chuyển ra thành phố H, V, T, thuê xe ô tô biển số 43A-41206 của ông Nguyễn Chí Q; V điều khiển xe ô tô chở T đến đón N, N1 và cùng nhau chạy ra thành phố H.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/3/2022, nhóm T đến khu vực trước số nhà A Đ, phường Đ, thành phố H để đợi N2. Khi thấy N2 từ xe taxi đi xuống đến điểm hẹn, V xông đến dùng chân đạp vào người N2 ngã xuống đường, tiếp theo T, N chạy đến dùng tay, chân đánh N2, hỗ trợ khống chế bắt giữ N2, lúc này N1 điều khiển xe ô tô để cả nhóm tiếp tục khống chế, ép N2 lên xe ô tô để đưa N2 vào thành phố Đà Nẵng. Khi đưa được N2 lên xe ô tô, N dùng dây thắt lưng của N2 để trói hai chân, T dùng dây sạc điện thoại trói hai tay N2.

Sau khi sự việc xảy ra, người dân trình báo sự việc đến Cơ quan Công an thành phố H. Tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H chặn bắt nhóm T tại địa phận huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Sau khi đưa Trần Hải Hồ N2 về trụ sở Cơ quan Công an thành phố H để làm việc, lợi dụng tình hình dịch bệnh Covid nên N2 đã bỏ đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

* Vật chứng vụ án đã thu giữ gồm:

  • - 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi của các bị cáo;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen có số Imei: 353098106145326; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh có số Imei 350510542428523; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7S, màu vàng có số Imei: 355312084651850; 01 dây sạc điện thoại; 01 dây thắt lưng màu đen; 01 xe ô tô biển số 43A-41206.

* Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe ô tô biển số 43A-41206 cho chủ sở hữu.

* Tại bản kết luận giám định số 115-24/KLTgTHS-GĐPY ngày 27/02/2024 của Trung tâm giám định Y khoa- Pháp y sở Y tế tỉnh T kết luận về thương tích của Trần Hải Hồ N2 như sau:

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Hải Hồ Nam q hồ sơ là 0%.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Chí Q yêu cầu bồi thường về dân sự với số tiền: 4.000.000 đồng. Hiện các bị cáo Hoàng Đình T, Trần Hoàng V đã bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKSTPH ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố các bị cáo Hoàng Đình T, Trần Hoàng V, Trần Quang NĐào Kim N1 về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt Hoàng Đình T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tại không giam giữ, Trần Hoàng V từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Quang NĐào Kim N1 mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho tất cả các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi của các bị cáo.

+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 dây sạc điện thoại; 01 dây thắt lưng màu đen;

+ Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen có số Imei: 353098106145326; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh có số Imei 350510542428523; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7S, màu vàng có số Imei: 355312084651850.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/3/2022, tại phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Trần Hải Hồ Nam m xe mô tô biển số 37P1-21367 của Hoàng Đình T để làm phương tiện đi lại, rồi đưa xe mô tô nói trên ra thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế để bán. Phát hiện ra sự việc, Hoàng Đình T đến Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để trình báo sự việc. Đến trưa ngày 15/3/2022, T báo cho Trần Hoàng V, Trần Quang N biết sự việc trên và thống nhất cùng nhau đi xe ô tô ra thành phố H để tìm bắt N2 đưa vào Công an phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để làm rõ. Sau đó, Trần Hoàng V rủ thêm Đào Kim N1 cùng tham gia. Vào khoảng 17 giờ ngày 15/3/2022, tại khu vực trước số nhà A đường Đ, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Hoàng Đình T cùng Trần Hoàng V, Trần Quang NĐào Kim N1 đã cùng nhau dùng vũ lực khống chế đưa Trần Hải Hồ N2 lên xe ô tô, rồi dùng dây sạc điện thoại, thắt lưng trói tay, chân của N2 nhằm đưa vào thành phố Đà Nẵng giao cho cơ quan công an xử lý. Khi xe ô-tô chở cả nhóm đến địa phận huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bị phát hiện, bắt giữ.

Với hành vi nêu trên, Hoàng Đình T, Trần Hoàng V, Trần Quang N, Đào Kim N1 bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi khống chế, bắt, giữ anh Trần Hải Hồ Nam t pháp luật là xâm phạm đến quyền tự do thân thể của con người được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện. Nguyên nhân dẫn đến vụ án là do bị hại đã lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt xe mô tô của Hoàng Đình T. Khi phát hiện Hoàng Đình T đã chủ động báo với cơ quan công an nhưng thay vì chờ cơ quan có thẩm quyền xử lý T đã rủ rê các bị cáo khác thực hiện hành vi bắt, giữ bị hại tại thành phố H di chuyển vào thành phố Đà Nẵng nhằm giao cho cơ quan công an. Chính vì sự nôn nóng muốn lấy lại tài sản và nhận thức chưa đúng về quy định trong xử lý tin báo tội phạm của các bị cáo nên dẫn đến việc phạm tội.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Trong đó, Hoàng Đình T là người khởi xướng và Trần Hoàng V là người rủ rê Đào Kim N1 tham gia bắt, giữ Trần Hải Hồ N2, đồng thời cả hai là người trực tiếp khống chế bị hại nên T phải chịu trách nhiệm chính và V phải chịu mức hình phạt liền ngay sau T; Trần Quang NĐào Kim N1 cùng hỗ trợ TV khống chế, bắt, giữ Trần Hải Hồ N2 trong đó N dùng thắt lưng trói chân anh N2, còn N1 điều khiển xe ô tô chở cả nhóm ra Huế tìm bị hại và trở về Đà Nẵng nên NN1 là người giúp sức, thực hành tích cực, có vai trò ngang nhau.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Các bị cáo nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự, khi phạm tội đang là sinh viên Đại học B; không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, nhận ra lỗi lầm của mình, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Mặt khác, trong vụ án này bị hại cũng có lỗi vì đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Hoàng Đình TTrần Hoàng V đã bồi thường cho người liên quan trong vụ án để khắc phục hậu quả nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phạm vào tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo và giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa cũng đủ giáo dục, răn đe, phòng ngừa và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo Hoàng Đình T, Trần Hoàng VTrần Quang N có điều kiện tốt nghiệp đại học. Do tất cả các bị cáo hiện tại có thu nhập thấp và không ổn định nên được miễn khấu trừ thu nhập.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi của các bị cáo. Đây là vật chứng nên cần tịch thu, tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 dây sạc điện thoại; 01 dây thắt lưng màu đen là công cụ mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi tội phạm và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen có số Imei: 353098106145326; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh có số Imei 350510542428523; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7S, màu vàng có số Imei: 355312084651850. Đây là các phương tiện mà các bị cáo dùng để liên lạc rủ rê cùng nhau thực hiện hành vi tội phạm nên cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi và các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Hoàng Đình T, Trần Hoàng V, Trần Quang NĐào Kim N1 phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Hoàng Đình T cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng V 10 (mười) tháng cải tạo không giam giữ. Thời chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Hoàng V cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Trần Quang N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Quang N cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Xử phạt bị cáo Đào Kim N1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời chấp hành hình phạt tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Đào Kim N1 cho UBND phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn khấu trừ thu nhập cho tất cả các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Video ghi nhận diễn biến hành vi của các bị cáo.
  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 dây sạc điện thoại; 01 dây thắt lưng màu đen;
  • - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen có số Imei: 353098106145326; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu xanh có số Imei 350510542428523; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7S, màu vàng có số Imei: 355312084651850.

Vật chứng trên có đặc điểm được xác định theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Buộc Hoàng Đình T, Trần Hoàng V, Trần Quang NĐào Kim N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

5. Án sơ thẩm xét xử công khai báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở tư pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - VKSND TP Huế;
  • - CA thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Các bị cáo; Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Tôn Minh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về bắt, giữ người trái pháp luật

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Bắt, giữ người trái pháp luật
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger