|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 168/2024/HS-PT Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Đặng Văn Chum. |
Các Thẩm phán: |
Ông Trương Văn Lộc. |
Ông Nguyễn Huỳnh Đức. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 103/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Minh T và đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Minh T (tên gọi khác: C), sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ A, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Quang S, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; ngày 03/8/2023 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
2. Đoàn Gia L, sinh năm 2001 tại tỉnh Đồng Nai; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ A, ấp X, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: nhân viên bán hàng; trình độ văn hóa: 11/12; con ông Đoàn Kim V, sinh năm 1975 và bà Trần Thị Mai T1, sinh năm 1975; có vợ tên Lê Khánh H, sinh năm 2003 và 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 16/5/2023 bị bắt khẩn cấp; ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T. Đến ngày 07/9/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
3. Nguyễn Thành N1, sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Trần Hưng S1, sinh năm 1975 và bà Ngô Thị Hồng Đ, sinh năm 1976; vợ tên Trương Hoàng Gia H1, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” và “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 16/5/2023 bị bắt khẩn cấp; ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T. Đến ngày 24/6/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
4. Ngô Nhật H2, sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ E, khu phố D, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 11/12; con Ngô Văn H3, sinh năm 1975 và bà Đoàn Thị Mỹ H4, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 16/5/2023 bị bắt khẩn cấp; ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T. Đến ngày 17/8/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
5. Ngô Minh T2 (tên gọi khác: Cà N2), sinh năm 2005 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ A, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: sinh viên; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Ngô Hữu P, sinh năm 1974 và bà Đoàn Thị Ánh T3, sinh năm 1979; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 16/5/2023 bị bắt khẩn cấp; ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T. Đến ngày 24/6/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
6. Trần Quang T4 (Tên gọi khác: S2), sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Thanh T5, sinh năm 1971 và bà Đỗ Thị T6, sinh năm 1983; vợ tên Ngô Thảo U, sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 16/5/2023 bị bắt khẩn cấp; ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố T. Đến ngày 11/7/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
7. Nguyễn Huỳnh Bảo P1, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 06/12; con ông Nguyễn Văn H5, sinh năm 1973 và bà Huỳnh Thị T7, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T từ ngày 09/8/2023 đến ngày 22/11/2023, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
8. Nguyễn Thanh L1, sinh năm 2003 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; con ông Nguyễn Văn P2, sinh năm 1979 và bà Lê Thị T8, sinh năm 1982; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp bắt bị can để tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T từ ngày 09/8/2023 đến ngày 19/10/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho tại ngoại; có mặt.
9. Phan Công H6 (tên gọi khác: T9), sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Phan Công T10, sinh năm 1979 và bà Nguyễn Thị T11, sinh năm 1979; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng N3, sinh năm 2002 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không.
Ngày 14/5/2023, thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Ngày 02/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo Phan Công H6 và Ngô Nhật H2: Ông Ngô Phước C1 là Luật sư Công ty L3 – Chi nhánh B1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
Trong vụ án còn có 09 bị cáo, 01 bị hại và 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Minh T2 và Nguyễn Minh T có mối quan hệ quen biết với nhau.
Khoảng 00 giờ ngày 14/5/2023, Nguyễn Minh T đi uống rượu bia về nhìn thấy Ngô Minh T2, Trần Quang T4, bà Ngô Thảo U (là vợ của T4) và Nguyễn Bảo K đang ngồi chơi phía trước nhà T2. T cho rằng nhóm T2 nhìn đểu mình nên T chửi “Tụi mày cởi áo với ai? Tụi mày tin tao đập tụi mày không?”. Sau đó, T và T2 xảy ra cự cãi qua lại, T2 vào nhà lấy 01 cây kiếm bằng kim loại dọa chém T thì T bỏ đi. Sáng cùng ngày, T2 nhắn tin nói lại toàn bộ sự việc xảy ra mâu thuẫn với T cho Đoàn Gia L (là anh họ của T2) biết.
Khoảng 23 giờ ngày 14/5/2023, T uống bia tại nhà của Nguyễn Thành N1 cùng với Đoàn Gia L thì L đưa điện thoại có tin nhắn của T2 đã nhắn cho T xem. Khi xem tin nhắn xong, T bực tức nên kêu L liên hệ hẹn gặp T2 để giải quyết mâu thuẫn thì L đồng ý và hẹn gặp T2 tại gần nhà T2. Sau đó, T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu nâu đen biển số 61E1 - 766.17, còn L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu xanh trắng biển số 62N1 - 199.57 đến khu vực ngã ba M đối diện nhà T2. Một lúc sau, N1 cũng điều khiển xe mô tô SH Mode màu xám biển số 61N1 - 126.80 đến. Tại đây, T gọi điện qua ứng dụng M cho Hoàng Thanh T12 nói việc xảy ra mâu thuẩn với T2 và rủ T12 đi cùng T giải quyết mâu thuẩn. Khi T12 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda SH 150i màu trắng biển số 61E1 - 957.47 đến Ngã tư Bưu điện thành phố T thì T12 gặp Ngô Nhật H2 đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Vario màu nâu biển số 61E1 - 850.49 chở Ngô Học Thức nên rủ cả hai cùng đi đến tập trung tại khu vực Ngã ba M.
Thấy nhóm của T đến đông, T2 nghĩ là T đến đánh mình nên gọi điện thoại qua ứng dụng M kể cho Trần Quang T4, Nguyễn Thanh L1 và Phạm Trường Q nghe toàn bộ nội dung sự việc và nhờ T4, L1, Q hỗ trợ đánh nhóm của T thì tất cả đều đồng ý. Sau đó, T2 nhắn tin với L nói đã rủ một nhóm người từ khu vực huyện B, tỉnh Bình Dương xuống đánh nhóm T nên L nói lại cho T nghe. T rủ cả nhóm hỗ trợ T đánh lại nhóm của T2 thì tất cả đều đồng ý.
Để chuẩn bị đánh nhau, Ngô Nhật H2 chở T13 về nhà T13 lấy 01 cây gậy bóng chày; còn N1, T, H2, L điều khiển xe mô tô tập trung sang phía bên kia đường (cùng chiều với nhà của T2) để chờ nhóm của T2, T nhặt 03 cây gỗ dưới đường đưa cho T12, N1 mỗi người cầm một cây, T giữ lại 01 cây, L nhặt 01 cục đá làm hung khí.
Trước khi đi, T4 gọi điện thoại qua ứng dụng M rủ Nguyễn Kim B và Nguyễn Thanh L1 cùng tham gia, cả hai đồng ý. Bằng rủ thêm Nguyễn Bảo K và Nguyễn Huỳnh Bảo P1 cùng tham gia. Sau đó, T4 điều khiển xe ôtô biển số 61A - 458.40 của mình, mang theo 01 cây dao tự chế, 01 cây kiếm nhật đi đến nhà B chở B, P1, K, L1 đến tập trung tại sân bóng đá TiTi gần nhà T2.
Khi T2 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Phạm Trường Q thì Q đang uống bia cùng với Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Thanh T15, Phan Công H6 và Nguyễn Đức L2 tại nhà của L2 thuộc ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Lúc này, Q nói với cả nhóm đi xuống ngã ba M để hỗ trợ T2 nói chuyện giải quyết mâu thuẫn với người khác rồi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 150 màu đen không rõ biển số của H6 đi trước. Khi vừa đi ra tới cổng nhà của L2 thì Q gặp Lê Huy T16 nên Q kể cho T16 nghe
việc T2 xảy ra mâu thuẫn với nhóm của T rồi rủ T16 xuống nhà T2 để hỗ trợ T2 giải quyết mâu thuẫn thì T16 đồng ý. Sau đó, H6 mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter 135 màu xanh dương - trắng không rõ biển số của L2 chở T14 xuống trước, còn T15 chạy về nhà lấy nón bảo hiểm thì gặp Nguyễn Anh H7 tại nhà T15 nên kể cho Nguyễn Anh H7 nghe toàn bộ sự việc và rủ Nguyễn Anh H7 cùng đi thì Nguyễn Anh H7 đồng ý. Sau đó, H7 điều hiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đen đỏ biển số 60F1 - 540.44 của T15 chở T15 đến sân bóng đá TiTi gần nhà T2.
Sau khi Q chở T16 đến nhà T2, T2 lấy từ trong nhà ra đưa cho Q một cây dao tự chế, T2 cầm 01 cây kiếm nhật và cầm theo 01 con dao tự chế quấn trong một cái áo khoác rồi T16 điều khiển xe mô tô Honda Vario chở T2, Q đến sân bóng đá TiTi tập trung tại đây.
Khi tập trung tại sân bóng, T2 đưa cho Q 01 cây dao tự chế quấn bên trong áo khoác, T2 cầm 01 cây kiếm nhật, Q đưa cho T14 01 cây dao tự chế, T16 cầm 01 con dao chặt thịt (loại dao phay), T15 cầm 01 con dao tự chế để đánh nhau với nhóm của T. Sau đó, T4 điều khiển xe ô tô biển số 61A-458.40 chở B, K, L1, P1, T2 cùng 01 nam thanh niên (không rõ lý lịch, địa chỉ), Tín điều khiển xe mô tô biển số 61E1-766.17 màu đen chở Q, H6 điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter chở T16, Nguyễn Anh H7 điều khiển xe mô tô Sirus (không rõ biển số) chở T15 cũng chạy đến Ngã ba M để đánh nhau với nhóm của T.
Khi nhóm của T2 đến thì cầm hung khí hỗn chiến, la hét, truy đuổi, đánh chém nhau với nhóm của T. Trong quá trình đánh nhau thì L1 cầm 01 con dao tự chế chém trúng 01 cái vào vùng cẳng tay trái của T12, nam thanh niên (không rõ lý lịch) dùng dao tự chế chém vào vùng tay trái của T, còn T cầm 01 cây gỗ đánh trúng 01 cái vào vùng đầu của L1 gây thương tích.
Đuổi đánh được một lúc thì nhóm của T2 bỏ chạy, khi T4 đang quay đầu xe ôtô biển số 61A - 458.40 thì N1 dùng cây gỗ đập 01 cái vào kính sau đuôi xe, T13 dùng gậy bóng chày đập 01 cái vào kính bên trái xe ô tô tại hàng ghế thứ ba làm bể vỡ kính hoàn toàn, 01 cái vào kính sau đuôi xe làm bể vỡ kính hoàn toàn và gãy cần gạt nước phía sau, L dùng cây gỗ đập 01 cái vào phần vè che mưa bên trái cửa tài xế làm bể vỡ và trúng phần đầu của T4 gây thương tích, 01 cái trúng vào khu vực kính chắn gió bên trái ở hàng ghế thứ ba nhưng không gây hư hỏng, T dùng cây kiếm nhật đập 01 cái vào khu vực phía trên kính chắn gió cửa tài xế và 02 cái vào khu vực kính chắn gió hàng ghế thứ ba cuối xe bên hàng lơ làm bể vỡ kính hoàn toàn và trầy xước phía trên kính chắn gió.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an phường U nhận được tin báo của quần chúng nhân dân nên đã phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành truy xét và mời nhóm của T và T2 về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Nguyễn Minh T, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Ngô Nhật H2, Ngô Học T17, Hoàng Thanh T12, Ngô Minh T2, Phạm Trường Q, Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Bảo K, Nguyễn Kim B, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4, Phan Công H6, Nguyễn Thanh T15, Nguyễn Anh H7, Lê Huy T16 đều khai nhận toàn bộ hành vi dùng kiếm nhật, dao tự chế, cây gỗ, gạch đá, gậy bóng chày, la hét, truy đuổi, đánh chém nhau tại Ngã ba M. Ngoài ra, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Ngô Học T17, Nguyễn Minh T còn có hành vi dùng kiếm nhật, cây gỗ, gậy bóng chày đập, phá xe ô tô biển số 61A-458.40 của Trần Quang T4.
Ngày 18/5/2023, UNBD phường U ban hành Công văn số 198/UBND về việc kiến nghị xử lý các đối tượng gây rối tại địa phương đối với hành vi của nhóm đối tượng nêu trên.
Công an phường U tạm giữ: Xe ô tô biển số 61A-458.40 thu giữ của Trần Quang T4; xe mô tô Vario biển số 61N1-199.57 nhãn hiệu Honda loại Vario, màu trắng xanh, số khung: MH1KF4127MK437996, số máy: KF41E2442512 của Đoàn Gia L; xe mô tô Honda Vario màu nâu biển số 61E1-850.49, số khung: MH1KF4126LK104509, số máy: KF41E2108617 của Ngô Nhật H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh số IMEI: 358754215589581 của Ngô Minh T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8Plus màu trắng số IMEI: 356716086382265 của Đoàn Gia L; xe mô tô mang biển số 61E1 - 957.47 nhãn hiệu Honda loại SH150i màu trắng, số khung: RLHKF4202NY134223, số máy: KF42E0076281 của Hoàng Thanh T12; xe mô tô mang biển số 61E1 - 766.17 nhãn hiệu Honda loại Vario 150 màu nâu đen, số khung: MH1KF411XKK653166, số máy: KF41E1653842 của Nguyễn Minh T; 01 xe mô tô mang biển số 61N1 - 126.80 nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu bạc đen, số khung: RLHJF513XGY365368, số máy: JF51E0699255 của Nguyễn Thành N1; 01 USB màu xám, nhãn hiệu Kakusiga KSC - 432, dung lượng 04 GB.
Sau khi xác lập hồ sơ ban đầu, Công an phường U tiến hành bàn giao hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 08/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố T kết luận xe ô tô biển số 61A - 458.40 bị thiệt hại cụ thể như sau: Vè che mưa bằng nhựa bên trái (cửa tài xế) giá định 317.000 đồng; Kính chắn gió bên trái, bên phải phía sau cùng (hàng ghế thứ 3) giá định 4.366.000 đồng; Kính chắn gió phía sau đuôi xe giá định 3.267.000 đồng; Cần gạt nước bằng nhựa phía sau đuôi xe giá định 967.000 đồng; Làm đồng, sơn trầy xước phía trên kính chắn gió bên trái (cửa tài) giá định 1.367.000 đồng; Làm đồng, sơn vết trầy xước phía trên hàng kính chắn gió bên phải phía sau cùng giá định 933.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 11.217.000 đồng.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 468/2023/TTPY ngày 09/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương về việc kết luận giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Thanh L1 là: 02%.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 482/2023/TTPY ngày 16/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương về việc kết luận giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Nguyễn Minh T là: 07%.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 461/2023/TTPY ngày 07/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương về việc kết luận giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Trần Quang T4 là: 01%.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 506/2023/TTPY ngày 28/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Dương về việc kết luận giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Hoàng Thanh T12 là: 10%.
Đối với 01 USB màu xám, nhãn hiệu Kakusiga KSC - 432, dung lượng 04 GB, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trưng cầu giám định: trích xuất hình ảnh các đối tượng trong các đoạn video được lưu trữ trong USB đã thu giữ. Ngày 13/7/2023, Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương có kết luận giám định số 367 về trích xuất hình ảnh dữ liệu trong USB thu giữ.
Xe mô tô Vario biển số 61N1-199.57 nhãn hiệu Honda loại Vario màu trắng xanh, số khung: MH1KF4127MK437996, số máy: KF41E2442512 do Đoàn Gia L đứng tên chủ sở hữu.
Xe mô tô Honda Vario màu nâu biển số 61E1 - 850.49 nhãn hiệu Honda loại Vario màu nâu, số khung: MH1KF4126LK104509, số máy: KF41E2108617, do Ngô Nhật H2 đứng tên chủ sở hữu.
Xe ô tô biển số 61A-458.40 là tài sản hợp pháp của ông Trần Thanh T5 (là cha bị cáo T4). Ngày 14/5/2023, T4 điều khiển xe đi tụ tập đánh nhau thì ông T5 hoàn toàn không biết. Ngày 28/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng số 81 trả lại xe ô tô trên cho ông Trần Thanh T5.
Xe mô tô biển số 61E1 - 766.17 nhãn hiệu Honda loại Vario 150 màu nâu đen, số khung: MH1KF411XKK653166, số máy: KF41E1653842, là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngọc G. Ngày 14/5/2023, T sử dụng xe của bà G để đi tụ tập đánh nhau thì bà G không biết. Ngày 05/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 92 trả lại xe mô tô trên cho bà G.
Xe mô tô biển số 61N1 - 126.80 nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu bạc đen, số khung: RLHJF513XGY365368, số máy: JF51E0699255 là tài sản hợp pháp của bà Trương Hoàng Gia H1. Ngày 14/5/2023, N1 sử dụng xe để đi tụ tập đánh nhau thì bà H1 không biết. Ngày 05/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 94 trả lại xe mô tô trên cho bà H1.
Xe mô tô biển số 61E1 - 957.47 nhãn hiệu Honda loại SH150i màu trắng, số khung: RLHKF4202NY134223, số máy: KF42E0076281 là tài sản hợp pháp của bà Đỗ Thị Hồng T18. Ngày 14/5/2023, T12 sử dụng xe để đi tụ tập đánh nhau thì bà T18 không biết. Ngày 05/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số 93 trả lại xe mô tô trên cho bà T18.
Trần Quang T4, Hoàng Thanh T12, Nguyễn Thanh L1 và Nguyễn Minh T có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi bị người khác đánh gây thương tích, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ông Nguyễn Đức L2 sau khi uống bia cùng Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Thanh T15, Phan Công H6 tại nhà của mình thì đi ngủ, không tham gia đánh nhau tại Ngã ba M cùng với nhóm của T2. Việc Phan Công H6 tự lấy xe môtô của ông L2 để đi đánh nhau thì ông L2 không biết, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý ông L2.
Đối với nam thanh niên tham gia gây rối cùng với nhóm của Ngô Minh T2 và cầm dao tự chế chém trúng tay của Nguyễn Minh T gây thương tích quá trình điều tra chưa xác định được lý lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành tách vụ
án hình sự đối với hành vi của nam thanh niên này, khi có căn cứ sẽ tiếp tục phục hồi, điều tra làm rõ theo quy định.
Cáo trạng số 56/CT-VKSTU ngày 01/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố:
- Các bị cáo Ngô Minh T2, Ngô Nhật H2, Hoàng Thanh T12, Phạm Trường Q, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4,Phan Công H6, Nguyễn Thanh T15, Nguyễn Anh H7, Lê Huy T16 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự;
- Các bị cáo Nguyễn Minh T, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Ngô Học T17 về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
- Các bị cáo Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Bảo K và Nguyễn Kim B về tội "Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và Chương XII Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Minh T2, Ngô Nhật H2, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4, Phan Công H6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T,Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Ngô Minh T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 24/6/2023.
- - Bị cáo Ngô Nhật H2 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 17/8/2023.
2.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Huỳnh Bảo P1 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 22/11/2023.
2.3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Thanh L1 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 19/10/2023.
- - Bị cáo Phan Công H6 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2.4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Trần Quang T4 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 11/7/2023.
2.5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2.6 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Gia L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Gia L 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Đoàn Gia L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 07/9/2023.
2.7 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N1 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Nguyễn Thành N1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 24/6/2023.
Ngoài ra, bản án còn tuyên xử phạt các bị cáo Hoàng Thanh T12 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Phạm Trường Q 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T15 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H7 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Lê Huy T16 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử
phạt bị cáo Nguyễn Bảo K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nguyễn Kim B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T14 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; xử phạt bị cáo Ngô Học T17 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Học T17 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 19/4/2024, bị cáo Nguyễn Thanh L1 và bị cáo Phan Công H6 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 22/4/2024, bị cáo Nguyễn Huỳnh Bảo P1 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 24/4/2024, bị cáo Ngô Nhật H2 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 26/4/2024, các bị cáo Ngô Minh T2, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Trần Quang T4 kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 02/5/2024, bị cáo Nguyễn Minh T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: hành vi của các bị cáo T, L, N1, H2, T2, T4, P1, L1, H6 dùng kiếm nhật, dao tự chế, cây gỗ, gạch đá, gậy bóng chày, la hét, truy đuổi, đánh chém nhau gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương nơi xảy ra vụ việc, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo T, L, N1 đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính hung hăng mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Đồng thời, hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Dương đang nổi lên tình trạng các băng nhóm, đặc biệt là thanh thiếu niên hư hỏng, đâm chém lẫn nhau diễn ra công khai, sử dụng vũ khí, hung khí nguy hiểm (dao tự chế, mã tấu, ba chĩa, phóng lợn, bom xăng, vũ khí quân dụng...) lưu thông trên đường sẵn sàng gây án tham gia hỗn chiến, đánh chém giải quyết mâu thuẫn, chống trả lực lượng khi bị phát hiện, gây rối trật tự công cộng, coi thường pháp luật xảy ra ngày càng nhiều. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi phạm tội của các bị cáo để có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo khi quyết định hình phạt và xử phạt các bị cáo mức án phù hợp đối với tội “Gây rối trật tự công cộng” và mức án không nặng đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên không có căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T, L, N1, H2, T2, T4, P1, L1, H6.
Tuy nhiên, đối với mức án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, Tòa án xử phạt các bị cáo T, L, N1, T17 cùng mức án 07 tháng tù là nhẹ so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra và chưa có sự
phân hóa vai trò, tính chất của từng đồng phạm khi quyết định hình phạt là vi phạm quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự, bởi lẽ bị cáo T là người có vai trò chính, là người rủ rê, cung cấp hung khí để các bị cáo khác đập phá tài sản, cũng chính bị cáo T và bị cáo T17 là người gây ra thiệt hại lớn nhất đối với xe ô tô biển số 61A-458.40 của Trần Quang T4 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng hình phạt bằng với bị cáo N1 và bị cáo L có vai trò, mức độ phạm tội thấp hơn. Mặc dù, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm trong việc áp dụng hình phạt đối với các bị cáo T, L, N1, T17 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng các bị cáo T, L, N1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo T17 không kháng cáo; các bị cáo T, L, N1, T17 không bị kháng nghị nên tại cấp phúc thẩm không thể sửa bản án theo hướng làm xấu hơn tình trạng của các bị cáo T, L, N1, T17. Đồng thời, các bị cáo T, L, N1, T17 bị xét xử về 02 tội, hình phạt tổng hợp của 02 tội cũng đủ sức răn đe, giáo dục và trừng trị đối với các bị cáo nên để nhằm ổn định bản án, không cần thiết hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại. Vấn đề vi phạm này sẽ tổng hợp kiến nghị, thông báo rút kinh nghiệm chung đối với cấp sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh L1, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Phan Công H6, Ngô Nhật H2, Trần Quang T4, Ngô Minh T2, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Nguyễn Minh T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Người bào chữa cho các bị cáo Phan Công H6 và Ngô Nhật H2 trình bày lời bào chữa: không có ý kiến về tội danh, về các tình tiết giảm nhẹ xin bổ sung thêm một số tình tiết các bị cáo H6 và bị cáo H2 phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, bản thân không có tiền án tiền sự, các bị cáo có vai trò thứ yếu trong vụ án, căn cứ khoản 4 mục I của Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp về trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 thì kính mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 đối với trường hợp phạm tội lần đầu của hai bị cáo. Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo cung cấp thêm tình tiết gia đình hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã từng đi nghĩa vụ quân sự là các tình tiết quy định theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, việc làm ổn định, luôn chấp hành tốt đường lối của Nhà nước, bị phạt tù không quá 03 năm tù vì vậy các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao. Từ những phân tích nêu trên kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Phan Công H6 và Ngô Nhật H2 được hưởng án treo.
Các Phan Công H6 và Ngô Nhật H2 đồng ý lời bào chữa và không bổ sung thêm.
Các bị cáo còn lại không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: kính mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định; đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Ngày 14/5/2023, tại Ngã ba M thuộc khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Minh T, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Ngô Nhật H2, Ngô Học T17, Hoàng Thanh T12, Ngô Minh T2, Phạm Trường Q, Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Bảo K, Nguyễn Kim B, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4, Phan Công H6, Nguyễn Thanh T15, Nguyễn Anh H7, Lê Huy T16 đã dùng kiếm nhật, dao tự chế, cây gỗ, gạch đá, gậy bóng chày, la hét, truy đuổi, đánh chém nhau đã làm những người dân xung quanh và những người lưu thông trên đường hoảng sợ, ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự công cộng tại địa phương. Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Ngô Học T17 và Nguyễn Minh T còn có hành vi dùng kiếm nhật, cây gỗ, gậy bóng chày đập phá xe ô tô nhãn hiệu Toyota Innova G màu ghi bạc, biển số 61A - 458.40 của ông Trần Thanh T5 gây hư hỏng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 11.217.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Ngô Minh T2, Ngô Nhật H2, Hoàng Thanh T12, Phạm Trường Q, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4, Phan Công H6, Nguyễn Thanh T15, Nguyễn Anh H7, Lê Huy T16, Nguyễn Trọng T14, Nguyễn Bảo K và Nguyễn Kim B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh T, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1 và Ngô Học T17 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh, khung hình phạt và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy vai trò của các bị cáo trong vụ án bị cáo T và bị cáo T2 là người khởi xướng, rủ rê và thực hiện hành vi tích cực, giữ vai trò đầu vụ; bị cáo L là người tác động; các bị cáo còn lại thực hiện hành vi tích cực cầm hung khí là dao tự chế, cây gỗ, gạch đá, gậy bóng chày, la hét, truy đuổi, đánh chém nhau, hành vi các bị cáo thực hiện thể hiện sự
coi thường pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực nên cần phải nghiêm trị nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, việc cho các bị cáo hưởng án treo là không nghiêm nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo Nguyễn Thanh L1, Phan Công H6, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Ngô Nhật H2, Trần Quang T4, Ngô Minh T2.
Bị cáo Ngô Minh T2 cung cấp thêm tình tiết mới có mẹ là bà Đoàn Thị Ánh T3 và cha là Ngô Hữu P được tặng thưởng nhiều Giấy khen, Bằng khen; bị cáo Phan Công H6 có giấy xác nhận thanh niên đã xuất ngũ; bị cáo Ngô Nhật H2 là quân nhân xuất ngũ; bị cáo Nguyễn Thanh L1 có Giấy xác nhận tham gia dân quân thường trực và có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Coivd 19, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để đưa ra mức án phù hợp đối với từng bị cáo. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Phan Công H6 và Ngô Nhật H2 là không có năn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Minh T2, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Trần Quang T4, Ngô Nhật H2, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1 và Phan Công H6.
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau:
2.1 Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Ngô Minh T2, Ngô Nhật H2, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1, Trần Quang T4, Phan Công H6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh T,Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 và tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
2.2 Về hình phạt:
2.2.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Ngô Minh T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 24/6/2023.
- - Bị cáo Ngô Nhật H2 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 17/8/2023.
2.2.2 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Huỳnh Bảo P1 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 22/11/2023.
2.2.3 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Thanh L1 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2023 đến ngày 19/10/2023.
- - Bị cáo Phan Công H6 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2.2.4 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- - Bị cáo Trần Quang T4 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 11/7/2023.
2.2.5 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 03 (ba) năm 01 (một) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2.2.6 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Gia L 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đoàn Gia L 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Đoàn Gia L phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 07/9/2023.
2.2.7 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N1 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N1 07 (bảy) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt của nhiều tội, buộc bị cáo Nguyễn Thành N1 phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án; khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/5/2023 đến ngày 24/6/2023.
3. Án phí hình sự phúc thẩm
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Minh T, Ngô Minh T2, Đoàn Gia L, Nguyễn Thành N1, Trần Quang T4, Ngô Nhật H2, Nguyễn Huỳnh Bảo P1, Nguyễn Thanh L1 và Phan Công H6 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
Bản án số 168/2024/HS-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về gây rối trật tự công cộng và cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 168/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng và Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T và đồng phạm phạm tội Gây rối trật tự công cộng và tội Cố ý làm hư hòng tài sản
