TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phong Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Văn Thi
Ông Trần Thành Chúng
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú. Tòa án nhân dân huyện An Phú mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ro Bi A, sinh năm 1960; cư trú: Tổ 07, ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Bu Ba C, sinh năm 1950; cư trú: Tổ 07, ấp Búng Lớn, xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Ro Bi A nộp đơn xin ly hôn với ông Bu Ba C với nội dung như sau:
Hôn nhân giữa ông, bà được hình thành là do cha mẹ định đoạt và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông Bu Ba C không quan tâm đến tình cảm vợ chồng, cuộc sống chung không hòa hợp. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn nên ông bà đã ly thân từ tháng 6/2021 đến nay. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông Bu Ba C.
Về quan hệ con chung: Có 05 con chung tên Ás A Ry, sinh ngày 01/01/1978; Mush Sa Liêm, sinh ngày 10/5/1985; Sa Ly HA, sinh ngày 01/02/1988; Mu Hăm Mách A Min, sinh ngày 01/01/1989 và Noor Fa Ri Dah, sinh ngày 22/7/1993. Hiện nay con chung đã trưởng thành và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Bu Ba C vắng mặt, không có trình bày ý kiến.
Tài sản chung, nợ chung: Không có, cũng không ai nợ lại ông bà.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng...là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy hôn nhân giữa bà Ro Bi A và ông Bu Ba C có mâu thuẫn vợ chồng và không thể hàn gắn được, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Hôn nhân giữa bà Ro Bi A và ông Bu Ba C là do mai mối, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp; bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú, nên yêu cầu xin ly hôn của bà Ro Bi A được tòa án thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa hai người hình thành là do mai mối, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau phát sinh mâu thuẫn và ly thân nhau. Nay bà Ro Bi A xin ly hôn do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.
Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn ngay từ ban đầu là do bất đồng quan điểm, thường hay gây nhau, bỏ mặc nhau, không quan tâm, dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Hiện tại bà Ro Bi A xác định là không còn tình cảm với ông Bu Ba C và mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không có tiếng nói chung không thể tiếp tục chung sống với ông Bu Ba C.
Trong thời gian dài hai người không quan tâm nhau, căn cứ khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân gia đình, thì ông bà đã vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 luật hôn nhân và gia đình 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình", do đó Tòa án nhận thấy cả hai vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ.
Về quan hệ con chung: Có 05 con chung tên Ás A Ry, sinh ngày 01/01/1978; Mush Sa Liêm, sinh ngày 10/5/1985; Sa Ly HA, sinh ngày 01/02/1988; Mu Hăm Mách A Min, sinh ngày 01/01/1989 và Noor Fa Ri Dah, sinh ngày 22/7/1993. Hiện nay con chung đã trưởng thành và tự lập nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Ro Bi A khai không có. Do ông Bu Ba C vắng mặt nên Tòa án không giải quyết nếu sau này ông Bu Ba C có tranh chấp thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Bà Ro Bi A là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Bu Ba C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ro Bi A
Về hôn nhân: Bà Ro Bi A được ly hôn với ông Bu Ba C.
Về án phí: Bà Ro Bi A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009279 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (bà Ro Bi A đã nộp đủ).
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/4/2024) các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo đối với người vắng mặt được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phong Phi |
Bản án số 168/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG về tranh chấp “xin ly hôn”
- Số bản án: 168/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Xin ly hôn”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
