TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2024/HS-ST
Ngày 25/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tô Huy Huy Bân, ông Nguyễn Thế Long
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Phong.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hạ Gia Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 30/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 10/9/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Vương Thị Thúy H, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Khu I, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Kế toán; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Xuân H1, sinh năm 1957 và bà Ngô Thị Ư, sinh năm 1954; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Hoàng Vinh Q, sinh năm 1981; con: Có 02 con sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến ngày 09/02/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1990; Nơi cư trú: thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: La Thị T, sinh năm 1992; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 365/2016/HSPT, ngày 01/7/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Đ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến ngày 09/02/2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 2001; Nơi cư trú: thôn K, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Kinh Doanh; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/06/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi cục thuế khu vực T - Y.
Địa chỉ: Đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân S1 - Chi cục trưởng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng H3 – Đội trưởng Đội kiểm tra thuế số 02, Chi cục thuế khu vực T3 - Y (có mặt).
- Công ty TNHH Đ1.
Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ – Giám đốc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 (viết tắt là Công ty Đ1); địa chỉ trụ sở chính: thôn M, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ – Giám đốc; ngành nghề kinh doanh chính là (đá, cát sỏi...).
Từ ngày 14/4/2022 đến ngày 23/6/2022, Vương Thị Thúy H thuê Nguyễn Văn T1 làm Giám đốc Công ty Đ1. Từ ngày 24/6/2022, H tiếp tục thuê Nguyễn Văn Đ làm Giám đốc thay cho Nguyễn Văn T1. Hường làm kế toán của Công ty, điều hành mọi hoạt động của Công ty. Hường thỏa thuận sẽ chia % lợi nhuận với Đ, T1 nhưng không có tỷ lệ cụ thể.
Trong thời gian được thuê làm Giám đốc thì T1, Đ theo sự chỉ đạo của H đã thực hiện việc chuyển tiền thanh toán đến các Công ty mà H mua hóa đơn GTGT khống (không có hàng hóa dịch vụ kèm theo). Trong thời gian T1 làm giám đốc H đã mua tổng cộng 11 số hóa đơn GTGT khống với tổng tiền hàng chưa thuế là: 3.167.925.700 đồng. Trong thời gian Đ làm giám đốc H đã mua tổng cộng 15 số hóa đơn GTGT khống, với tổng tiền hàng chưa thuế là: 5.160.305.597 đồng. Đối với các loại hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT 10% thì H mua hóa đơn GTGT khống với giá 9% trên tổng thuế suất hóa đơn GTGT 10% theo quy định; Đối với các loại hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT 8% thì H mua hóa đơn GTGT khống với giá 7% trên tổng thuế suất hóa đơn GTGT 8% theo quy định. Mục đích để H hợp thức nguồn hàng hóa mua trôi nổi trên thị trường không có hoá đơn chứng từ sau đó kê khai báo cáo, quyết toán thuế nhằm hoạch toán chi phí kinh doanh trái quy định để trốn thuế.
Cụ thể H đã mua hóa đơn GTGT khống của 06 Công ty sau:
- Công ty TNHH D1; có địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Đình T2 làm giám đốc (04 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.631.172.500 đồng).
- Công ty TNHH T4; có địa chỉ: thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Phạm Hoàng P làm giám đốc (02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 280.185.000 đồng).
- Công ty TNHH một thành viên T5; có địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang do ông Đỗ Thành L làm giám đốc (09 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 2.932.138.200 đồng).
- Công ty TNHH T6; có địa chỉ: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang do bà Đinh Thị Tuyết M làm giám đốc (06 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.357.845.597 đồng).
- Công ty TNHH MTV T7; có địa chỉ: thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang do bà Phan Thị D làm giám đốc (01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 557.380.000 đồng).
- Công ty TNHH T8; có địa chỉ: thôn C, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang do ông Phạm Văn H4 làm giám đốc (04 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.569.470.000 đồng).
Sau khi mua hóa đơn GTGT khống, H đã hợp thức nguồn hàng hóa, nguyên liệu mua trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn chứng từ rồi xuất bán hàng hóa, dịch vụ kèm theo 29 hóa đơn GTGT với tổng số tiền chưa tính thuế là 8.485.639.818 đồng cho 14 Công ty, cụ thể như sau:
- Công ty TNHH Đ2 có địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh 03 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.983.950.000 đồng.
- Công ty TNHH Y có địa chỉ: K, KCN Q, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh 01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 901.500.000 đồng.
- Công ty cổ phần X1 có địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh 01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 265.000.000 đồng.
- Công ty TNHH T9 có địa chỉ: V, xã V, huyện T, tỉnh Bắc Ninh 01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 151.700.000 đồng.
- Công ty cổ phần Đ3 có địa chỉ: số nhà B, ngách C đường T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 103.000.000 đồng.
- Công ty cổ phần X2 có địa chỉ: Số A, ngõ S, tổ E, phường T, quận H, thành phố Hà Nội 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 842.702.000 đồng:
- Công ty cổ phần Đ4 có địa chỉ: Số F, ngõ F phố T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 376.029.500 đồng.
- Công ty TNHH T10 có địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 05 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.031.516.000 đồng.
- Công ty cổ phần T11 có địa chỉ: LK17- LK18 khu Đ, phường K, quận H, TP Hà Nội 01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 262.200.000 đồng.
- Công ty TNHH M1 có địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 04 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 765.355.000 đồng.
- Công ty cổ phần T5 có địa chỉ: thôn P, xã X, huyện P, thành phố Hà Nội 01 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 99.981.818 đồng.
- Công ty TNHH P1 có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 36.000.000 đồng.
- Công ty TNHH T12 có địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 1.296.100.000 đồng.
- Công ty TNHH T5 có địa chỉ: khu phố M, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh 02 hóa đơn với tổng tiền hàng chưa thuế là 370.605.500 đồng.
Các công ty trên đều trình bày có mua hàng hoá thật của Công ty Đ1. Việc mua bán hàng hoá đều có hợp đồng mua bán, xuất hoá đơn chứng từ đầy đủ, thanh toán tiền đều bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.
Tại Bản kết luận giám định ngày 12/12/2023 của Cục thuế tỉnh B kết luận:
- Về thuế giá trị gia tăng (GTGT): Công ty Đ1 sử dụng không hợp pháp 26 số hóa đơn GTGT (không có hàng hóa dịch vụ đi kèm) để hạch toán hàng hóa nguyên liệu mua vào và kê khai khấu trừ làm giảm số thuế phải nộp là hành vi trốn thuế GTGT, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 774.917.666 đồng.
- Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Do Công ty Đ1 không cung cấp được hồ sơ tài liệu liên quan đến chứng từ, sổ sách kế toán cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y nên không có đủ cơ sở để xác định hành vi trốn thuế TNDN.
Tại Bản Cáo trạng số 156/CT-VKS-YP ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố các bị cáo Vương Thị Thúy H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T1 về tội “Trốn thuế” theo điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo H khai: Hường thành lập Công ty TNHH Đ1, H thuê Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn T1 làm Giám đốc, H làm kế toán. Trong năm 2022, Công ty Đ1 mua hóa đơn GTGT khống về hàng hóa dịch vụ sau đó hợp thức hóa nguồn hàng hóa trôi nổi trên thị trường không có hóa đơn chứng từ rồi bán cho các Công ty có nhu cầu mua để hạch toán chi phí kinh doanh, quyết toán thuế nhằm mục đích trốn thuế.
Bị cáo T1 khai: Từ tháng 4/2022 đến tháng 6/2022, dưới sự chỉ đạo của H, T1 thành lập Công ty TNHH Đ1, T1 chỉ đứng tên Giám đốc Công ty Đ1, mọi hoạt động của Công ty Đ1 do H điều hành, khi nào cần ký hồ sơ thì H gặp T1 để ký. H đã mua tổng cộng 11 hóa đơn khống. Cụ thể T1 đã ký giấy tờ mua hóa đơn GTGT của Công ty TNHH D1 và Công ty TNHH một thành viên T5, sau đó ký giấy tờ bán hàng cho 08 Công ty là Công ty TNHH Y, Công ty cổ phần X1, Công ty TNHH T9, Công ty cổ phần X2, Công ty cổ phần Đ4, Công ty TNHH T10, Công ty TNHH T5, Công ty cổ phần Đ3.
Bị cáo Đ khai: Tháng 6/2022, Đ được H thuê làm giám đốc Công ty TNHH Đ1. Trong thời gian làm giám đốc, H chỉ đạo Đ ký các giấy tờ như Hợp đồng kinh tế, biên bản nghiệm thu khối lượng, biên bản nghiệm thu giá trị. H đã mua tổng cộng 15 số hóa đơn GTGT khống. Ngoài ra quá trong quá trình thanh toán tiền mua hóa đơn GTGT khống thì H chuyển tiền từ số tài khoản của H đến số tài khản của Đại để Đ chuyển tiền đến tài khoản của Công ty Đ1. Công ty Đ1 bán hàng thì Công ty mua hàng chuyển tiền đến tài khoản của Công ty Đ1, sau đó Đ chuyển tiền từ tài khoản của Công ty Đ1 đến tài khoản của H.
Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Thị Thúy H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trốn thuế”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 56 đến 60 tháng; xử phạt bị cáo Đại từ 18 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng; xử phạt bị cáo T1 từ 14 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo H từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo T1 và bị cáo Đ.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 774.917.666 đồng thu lợi bất chính của H. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 774.917.666 đồng vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
- Về vật chứng: Không có.
Lưu hồ sơ 03 đĩa ghi hình về việc hỏi cung của bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo T1.
Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Tại phần nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vương Thị Thúy H là kế toán và là chủ Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1. Từ ngày 14/4/2022 đến ngày 23/6/2022, H thuê Nguyễn Văn T1 làm giám đốc, từ ngày 24/6/2022 đến năm 2023 H thuê Nguyễn Văn Đ làm giám đốc. Mặc dù Đ, T1 làm giám đốc nhưng Đ, T1 làm theo sự chỉ đạo của H.
Trong thời gian T1 làm giám đốc (quý III năm 2022, H đã mua tổng cộng 11 số hóa đơn GTGT khống (không có hàng hóa dịch vụ kèm theo), với tổng tiền hàng chưa thuế là: 3.167.925.700 đồng. Trong thời gian Đ làm giám đốc (quý III năm 2022), H đã mua tổng cộng 15 số hóa đơn GTGT khống (không có hàng hóa dịch vụ kèm theo), với tổng tiền hàng chưa thuế là: 5.160.305.597 đồng. H đã hợp thức hóa số hóa đơn trên rồi xuất bán hàng hóa, dịch vụ kèm theo hóa đơn GTGT cho 14 Công ty để trốn thuế trong quý II năm 2022 với số tiền là 316.792.570 đồng, trong quý III năm 2022 là 458.125.096 đồng. Hành vi trốn thuế giá trị gia tăng của Công ty Đ1 đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước tổng số tiền là 774.917.666 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là chế độ quản lý của Nhà nước về thuế, xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước trong việc thu thuế, gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội các bị cáo H đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính 774.917.666 đồng. Như vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, bị cáo Đ đã từng một lần bị Tòa án xét xử: Tại bản án số 365/2016/HSPT, ngày 01/7/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Đ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và được xóa án tích, Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng cố ý thực hiện hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H là kế toán Công ty và giữ vai trò chính, là người khởi xướng việc lập hóa đơn khống nhằm chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước và tích cực thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đ và bị cáo T1 giữ vai trò đồng phạm thực hiện theo sự chỉ đạo của bị cáo H. Do vậy khi quyết định hình phạt, cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo H cao hơn hình phạt đối với bị cáo Đ và bị cáo T1. Các bị cáo là người có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho các bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đảm bảo giáo dục đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H. Bị cáo Đ và bị cáo T1 giúp sức cho bị cáo H, không được hưởng lợi từ hành vi trốn thuế không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ và bị cáo T1.
Đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo H là 774.917.666 đồng, cần truy thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền này. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp 774.917.666 đồng vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
[3] Về các vấn đề khác: Đối với 06 Công ty đã xuất hóa đơn khống cho Công ty Đ1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã tiến hành xác minh tại địa chỉ trụ sở đã đăng ký kinh doanh của các Công ty trên thì các Công ty này đều không có trụ sở, không hoạt động. Chi cục thuế khu vực các Công ty đóng trên địa bàn đều có thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y chưa làm việc được với người đại diện theo pháp luật của các công ty trên nên chưa xác định được việc mua bán hàng hoá với Công ty Đ1 là có hàng hoá kèm theo hay không. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với điện thoại và sim điện thoại H sử dụng để liên lạc mua hóa đơn khống, do H đã làm hỏng và vứt bỏ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ truy tìm và thu giữ nên không xem xét.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vương Thị Thúy H, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trốn thuế”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Vương Thị Thúy H 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn gian thử thách là 56 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn gian thử thách là 28 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 25/9/2024.
Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Văn T1 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo T1 không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Áp dụng khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự: Phạt bổ sung bị cáo Vương Thị Thúy H 40.000.0000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đ và bị cáo T1.
Giao bị cáo Vương Thị Thúy H cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện S, thành phố Hà Nội giám giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Vương Thị Thúy H 774.917.666 đồng. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 774.917.666 đồng vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. (Theo Giấy nộp tiền ngày 03/5/2024 vào tài khoản số 3949.0.9047369.00000 tại Kho bạc Nhà nước huyện Y).
Lưu hồ sơ 03 đĩa ghi hình về việc hỏi cung của bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo T1.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo H, bị cáo Đ, bị cáo T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Tạ Xuân Xế | Nguyễn Thị Yến | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Tuấn |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trốn thuế
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trốn thuế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Thị Thúy Hường, Nguyễn Văn Đại, Nguyễn Văn Tập - Trốn Thuế
