Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 168/2024/HS-ST

Ngày: 25-7-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thắm.
  • 2. Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 13/2024/HSST-QĐ ngày 08/7/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Văn N, sinh ngày 20/12/1994, tại tỉnh Quảng Trị. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Đoàn Thị H; vợ: Lê Thị K, có 01 con sinh năm 2018; tiền án (02): ngày 07/7/2020, Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 95/2020/HS-ST; ngày 11/6/2021, Toà án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 248/2021/HS-ST; tiền sự: không; nhân thân: ngày 20/11/2015, Toà án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 31/2015/HSST; ngày 22/01/2016, Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 12/2016/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/12/2022 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
  2. Họ và tên: Dương Văn H1, sinh ngày 16/7/1989, tại tỉnh Quảng Trị. Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 và bà Lê Thị T2; vợ: Lê Thị D, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/12/2007, Toà án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 15/2007/HSST; ngày 09/6/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền 350.000 đồng về hành vi đánh nhau; ngày 07/5/2009, Toà án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 133/2009/HSST; ngày 30/11/2023, Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án hình sự sơ thẩm số 374/2023/HS-ST; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/3/2024; có mặt.

Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số H, đường N, khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  2. Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm 2002; HKTT: Ấp N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Nhà T, Đường N, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Ông Trần Danh T3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ B, khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  4. Lê Thị L, sinh năm 1981; HKTT: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nơi ở: Số B đường D, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Nguyên đơn dân sự: Ông Mông Văn T4, sinh năm 1999; HKTT: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở: Nhà T, Đường N, khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị D, sinh năm 1995; HKTT: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nơi ở: Số C, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn N, Dương Văn H1 và đối tượng tên T5 (chưa rõ lai lịch) là bạn bè quen biết với nhau, đều không có nghề nghiệp. Khoảng 07 giờ ngày 22/12/2022, T5 điện thoại cho NH1 rủ đi đến khu vực thị xã B, tỉnh Bình Dương trộm cắp xe mô tô đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, thì NH1 đồng ý. Sau đó, T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter 155cc, màu đen (không rõ biến số) đến khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dương gặp NH1, T5 đưa cho NH1 mỗi người 01 túi đeo chéo bằng da, màu xanh-đen, bên trong có các dụng cụ dùng để phá khóa xe và các công cụ hỗ trợ khác phục vụ cho việc trộm cắp xe mô tô. Đồng thời, T5 đưa cho H1 01 biển số xe mô tô 60F2-293.73, để Hoàng gắn vào xe mô tô hiệu Exciter 155cc, màu đỏ được dán decal màu đen, số máy G3M5E-177662, số khung RLCUG1220NY020698 của H1 mới mua, chưa được cấp biển số. Sau đó, T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter 155cc, màu đen (không rõ biển số) chở N, còn H1 điều khiển xe mô tô biển số 60F2-293.73 đi một mình rồi cùng nhau chạy theo đường Quốc Lộ 13 đến khu vực thị xã B, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, T5, NH1 bàn bạc thống nhất: Khi phát hiện có xe mô tô để sơ hở, T5H1 sẽ dừng xe bên ngoài đứng cảnh giới cho N lấy trộm xe; sau khi lấy trộm được xe thì N, H1T5 sẽ điều khiển xe đến đoạn đường M - T, thuộc khu vực phường C, thị xã B giao cho người mà T5 đã hẹn trước, đến lấy xe đem đi tiêu thụ, rồi cả ba tiếp tục đi trộm. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ đến 10 giờ ngày 22/12/2022, T5, NH1 đã cùng nhau thực hiện 04 vụ trộm cắp xe mô tô, cụ thể như sau:

  • Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 22/12/2022, T5, NH1 đi đến đoạn đường NE3, thuộc khu phố H, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì phát hiện xe mô tô hiệu Honda Winner X, biển số 47F1-645.92 của ông Mông Văn T4 (sinh năm 1999, nơi thường trú: Thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk) đang dựng trước tiệm S, trên ổ khóa xe có gắn sẵn chìa khóa, không có người trông coi. Lúc này, T5H1 chạy qua một đoạn khoảng 30m rồi dừng lại đứng cảnh giới, còn N xuống xe, lén lút đi lại chỗ xe mô tô biển số 47F1-645.92 mở khóa, đề máy điều khiển xe chạy đến chỗ T5H1, rồi cùng nhau chạy đến đoạn đường M - T, giao xe cho người của T5 đem đi tiêu thụ. Sau đó, T5, H1N tiếp tục đi tìm xe mô tô để trộm.
  • Vụ thứ hai: Khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, T5, NH1 đi đến đoạn đường XC7, thuộc khu phố D, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì T5 phát hiện xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 69E1-556.47 của bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 (sinh năm: 2002, nơi thường trú: ấp N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau) đang dựng trước hiên nhà số E (Spa Q) không có người trông coi. Lúc này, T5H1 dừng xe lại, cho N xuống xe đi lại lén lút dùng đoản bằng kim loại bẻ khóa xe biển số 69E1-556.47, rồi đề máy điều khiển xe chạy theo T5H1 đến đoạn đường M - T giao xe. Sau đó, T5, NH1 tiếp tục đi tìm xe mô tô để trộm.
  • Vụ thứ ba: Khoảng 09 giờ cùng ngày, T5, NH1 đi đến đoạn đường TC1, thuộc khu phố F, phường T, thị xã B, thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 153CC, biển số 36D1-155.35 của ông Trần Dông T6 (sinh năm 1972, nơi thường trú: khu phố E, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương) đang dựng trên vĩa hè trước cửa hàng bán đồ điện nước H. Lúc này, T5H1 dừng xe lại đứng cảnh giới, còn N đi lại lén lút dùng đoản bằng kim loại bẻ khóa xe mô tô biển số 36D1-155.35 rồi đề máy, điều khiển xe chạy theo T5H1 đến đoạn đường M - T giao xe. Sau đó, T5, NH1 tiếp tục đi tìm xe mô tô để trộm.
  • Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ cùng ngày, T5, NH1 đi đến đoạn đường đoạn trước quán P, cạnh đường Q, thuộc khu phố C, phường M, thị xã B, thì phát hiện xe mô tô hiệu honda Future 124CC, biển số 86B3-712.37 của bà Lê Thị L (sinh năm 1981, nơi thường trú: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Bình thuận) đang dựng trước quán không có người trông coi. Lúc này, T5H1 dừng xe lại trên vĩa hè, còn N đi lại lén lút dùng đoản bằng kim loại bẻ khóa xe mô tô biển số 86B3-712.37 rồi đề máy, điều khiển xe chạy theo T5H1 đến đoạn đường M - T giao xe. Sau đó, T5, NH1 tiếp tục đi tìm xe mô tô để trộm.

Ngay sau khi phát hiện bị mất trộm xe mô tô, ông Mông Văn T4, bà Nguyễn Thị Huỳnh N1, ông Trần Dông T6 và bà Lê Thị L đã đến Công an phường M và Công an phường T trình báo vụ việc. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 22/12/2022, lực lượng Công an phường T tuần tra phát hiện Dương Văn H1 đang điều khiển xe mô tô biển số 60F2-293.73 chở Lê Văn N ngồi phía sau và T5 điều khiển xe mô tô không rõ biển số đang đi trên đường D, thuộc khu phố A, phường T, thị xã B có đặc điểm giống với đối tượng gây án nên tiến hành yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, H1T5 tăng ga bỏ chạy về hướng đến phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trên đường lực lượng Công an phường T truy đuổi theo xe của Dương Văn H1 thì Lê Văn N ngồi sau đã có hành vi dùng bình xịt hơi cay xịt chống trả nhưng đã bị lực lượng Công an khống chế và bắt giữ được H1N, riêng đối tượng tên T5 bỏ chạy thoát. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi đeo chéo hình chữ nhật, màu xanh, đen, kích thước 27cm x 20cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen; 01 bình xịt hơi cay màu vàng đen, trên vỏ bình có chữ “TAKE DOWN”; 01 cần siết lực bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, trên thân có ghi dòng chữ “GS VAKIO”; 08 đầu đoản bằng kim loại; 02 thanh kim loại màu vàng, hình trụ vuông dài 04 cm của Lê Văn N; 01 xe mô tô hiệu Exciter 155cc, màu đỏ được dán decal màu đen, số máy G3M5E-177662, số khung RLCUG1220NY020698, gắn biển số 60F2-293.73; 01 túi đeo chéo hình vuông kích thước 24cm x 24cm, màu đen, trên túi có ghi dòng chữ “Gucci” màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, không kiểm tra tình trạng bên trong máy; 01 bình xịt hơi cay màu đen-vàng trên vỏ bình có chữ “TAKE DOWN”; 01 con dao tự chế dài 33cm, có vỏ bọc bằng gỗ quấn băng dính đen và số tiền 4.250.000 đồng của Dương Văn H1.

Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã B, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đen, biển số 47F1-645.92, trị giá 31.760.000 đồng; xe mô tô hiệu Honda Vario, màu xanh đen, biển số 69E1-556.47, trị giá 33.100.000 đồng; xe mô tô Honda SH 153CC, màu đỏ-đen-xám, biển số 36D1-155.35, trị giá 46.330.000 đồng; xe mô tô hiệu Honda Future 124CC, màu đen bạc, biển số 86B3-712.37, trị giá 25.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Lê Văn NDương Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của NH1 phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về xử lý vật chứng: Ngày 23/12/2022, lực lượng Công an phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh tuần tra phát hiện xe mô tô Honda SH 153CC, màu đỏ-đen-xám, biển số 36D1-155.35 dựng trên vỉa hè nên đã tiến hành tạm giữ. Sau đó, Công an phường T đã chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B xử lý theo thẩm quyền. Ngày 23/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều trac Công an thị xã B xử lý vật chứng giao trả xe mô tô biển số 36D1-155.35 cho ông Trần Dông T6.

Đối với biển số xe mô tô 60F2-293.73, qua tra cứu xác định: Số biển số này của xe mô tô nhãn hiệu Air Blade do chị Lê Thị T7 (sinh năm 1971, nơi thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký. Từ khi được cấp biển số xe mô tô 60F2-293.73 cho đến nay, chị T7 không làm mất mát hay hư hỏng biển số này.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 17/8/2023, Lê Thị D (là vợ của Dương Văn H1) đã thỏa thuận bồi thường cho ông Mông Văn T4 số tiền 15.880.000 đồng; bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 số tiền 16.550.000 đồng; ông Trần Danh T3 số tiền 3.750.000 đồng; bà Lê Thị L số tiền 12.500.000 đồng. Ông T4, bà N1, ông T3 và bà L đã đồng ý nhận bồi thường. Đối với số tiền còn lại, ông T4, bà N1 và bà L yêu cầu Lê Văn N phải bồi thường theo như giá trị định giá của Hội đồng định giá.

Cáo trạng số 82/CT-VKSTDM ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại a, b, c, đ, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Dương Văn H1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại a, c, đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b, c, đ, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn N mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.

Áp dụng điểm a, c, đ khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Dương Văn H1 mức hình phạt từ 05 năm tù đến 05 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo liên đới bồi thường cho ông Mông Văn T4 số tiền 15.880.000 đồng; bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 số tiền 16.550.000 đồng; bà Lê Thị L số tiền 12.500.000 đồng.

Về biện pháp tư pháp, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Tịch thu tiêu hủy: 01 túi đeo chéo hình chữ nhật, màu xanh, đen, kích thước 27cm x 20cm; 02 bình xịt hơi cay màu vàng đen, trên vỏ bình có chữ “TAKE DOWN”; 01 cần siết lực bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, trên thân có ghi dòng chữ “GS VAKIO”; 08 đầu đoản bằng kim loại; 02 thanh kim loại màu vàng, hình trụ vuông dài 04 cm; biển số 60F2-293.73; 01 túi đeo chéo hình vuông kích thước 24cm x 24cm, màu đen, trên túi có ghi dòng chữ “Gucci” màu bạc; 01 con dao tự chế dài 33cm, có vỏ bọc bằng gỗ quấn băng dính đen. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; xe mô tô hiệu Exciter 155cc, màu đỏ được dán decal màu đen, số máy G3M5E-177662, số khung RLCUG1220NY020698. Tạm giữ đảm bảo thi hành án số tiền 4.250.000 đồng của Dương Văn H1.

- Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lê Văn N là đối tượng có 02 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích, không có nghề nghiệp, sinh sống bằng tiền từ việc lấy trộm và bán tài sản do phạm tội mà có. Trong khoảng thời gian từ 08 giờ đến 10 giờ ngày 22/12/2022, Lê Văn N, Dương Văn H1 đã được đối tượng tên T5 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể và liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bình Dương với tổng giá trị là 136.190.000 đồng, cụ thể như sau:
    • Khoảng 08 giờ ngày 22/12/2022, tại trước tiệm S, cạnh đường NE3, thuộc khu phố H, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương, N, H1T5 lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, biển số 47F1-645.92 do ông Mông Văn T4 làm chủ sở hữu, trị giá 31.760.000 đồng.
    • Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 22/12/2022, tại trước căn nhà số E (Spa Q), cạnh đường XC7, thuộc khu phố D, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương, N, H1T5 lấy trộm được 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, biển số 69E1-556.47 của bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 trị giá 33.100.000 đồng.
    • Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 22/12/2022, trước cửa hàng bán đồ điện nước H, cạnh đường TC1, thuộc khu phố F, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, N, H1T5 lấy trộm được 01 xe mô tô hiệu Honda SH 153CC, biển số 36D1-155.35 của ông Trần Danh T3 trị giá 46.330.000 đồng.
    • Khoảng 10 giờ ngày 22/12/2022, trước quán P, cạnh đường Q, thuộc khu phố C, phường M, thị xã B, N, H1T5 lấy trộm được 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future 124CC, màu đen bạc, biển số 86B3-712.37 của chị Lê Thị L trị giá 25.000.000 đồng. Sau khi bị truy đuổi, các bị cáo có hành vi dung bình xịt hơi cay chống trả lực lượng Công an nhưng bị khống chế và bắt lại.

    Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung được quy định tại điểm a, b, c, đ, g khoản 2 Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Lê Văn N và điểm a, c, đ khoản 2 Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Dương Văn H1. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vụ án mang tính chất đồng phạm, các bị cáo N, H1 đều thực hiện theo sự phân công của đối tượng tên T5, thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản với phương thức, thủ đoạn liều lĩnh. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo mà áp dụng mức hình phạt tương xứng.
  4. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo liên tiếp thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản nên phạm vào tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  5. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo H1 đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  6. Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ông Mông Văn T4 yêu cầu Lê Văn N bồi thường số tiền 15.880.000đ, bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 yêu cầu Lê Văn N bồi thường số tiền 16.550.000 đồng; bà Lê Thị L yêu cầu Lê Văn N bồi thường số tiền 12.500.000 đồng. Tại phiên toà, bị cáo N đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  8. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 túi đeo chéo hình chữ nhật, màu xanh, đen, kích thước 27cm x 20cm; 02 bình xịt hơi cay màu vàng đen, trên vỏ bình có chữ “TAKE DOWN”; 01 cần siết lực bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, trên thân có ghi dòng chữ “GS VAKIO”; 08 đầu đoản bằng kim loại; 02 thanh kim loại màu vàng, hình trụ vuông dài 04 cm; biển số 60F2-293.73; 01 túi đeo chéo hình vuông kích thước 24cm x 24cm, màu đen, trên túi có ghi dòng chữ “Gucci” màu bạc; 01 con dao tự chế dài 33cm, có vỏ bọc bằng gỗ quấn băng dính đen.

    Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; xe mô tô hiệu Exciter 155cc, màu đỏ được dán decal màu đen, số máy G3M5E-177662, số khung RLCUG1220NY020698.

    Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 4.250.000 đồng của Dương Văn H1.

    (Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).

  9. Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N, Dương Văn H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm a, b, c, đ, g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Văn N 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2022.
    2. Áp dụng điểm a, c, đ khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/3/2024.
  3. 3/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 586, 587, 589 của Bộ luật dân sự.

    Buộc Lê Văn N có nghĩa vụ bồi thường cho ông Mông Văn T4 số tiền 15.880.000đ (mười lăm triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng); bồi thường cho bà Nguyễn Thị Huỳnh N1 số tiền 16.550.000đ (mười sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng); bồi thường cho bà Lê Thị L số tiền 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. 3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dung Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi đeo chéo hình chữ nhật, màu xanh, đen, kích thước 27cm x 20cm; 02 bình xịt hơi cay màu vàng đen, trên vỏ bình có chữ “TAKE DOWN”; 01 cần siết lực bằng kim loại màu trắng dài 13 cm, trên thân có ghi dòng chữ “GS VAKIO”; 08 đầu đoản bằng kim loại; 02 thanh kim loại màu vàng, hình trụ vuông dài 04 cm; biển số 60F2-293.73; 01 túi đeo chéo hình vuông kích thước 24cm x 24cm, màu đen, trên túi có ghi dòng chữ “Gucci” màu bạc; 01 con dao tự chế dài 33cm, có vỏ bọc bằng gỗ quấn băng dính đen.
    • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; xe mô tô hiệu Exciter 155cc, màu đỏ được dán decal màu đen, số máy G3M5E-177662, số khung RLCUG1220NY020698.
    • Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án số tiền 4.250.000 đồng của Dương Văn H1.
  5. 4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Văn N phải chịu 2.246.500đ (hai triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND tỉnh Bình Dương;
  • Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • VKSND thành phố Bến Cát;
  • Công an thành phố Bến Cát;
  • Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • Người tham gia tố tụng;
  • Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: N trộm cắp tài sàn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger