|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 328/2024/HNGĐ- ST Ngày 25/6/2024 “V/v Tranh chấp HN&GĐ" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Dình Khoát; bà Ngô Minh Thủy
Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn thị Hương Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 179/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: chị Đỗ Thị D, sinh năm 1994 (có mặt).
ĐKHKTT: thôn D H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội.
-
*Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1989
ĐKHKTT: thôn D H, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại trại giam S – cục C Bộ C1 (vắng mặt, có đơn xin vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, quá trình làm việc cũng như tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Ngọc M năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện M, kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới xong chị có về làm dâu nhà anh M ngay, để thuận tiện cho công việc của hai vợ chồng nên vợ chồng đã sống ở ngoài khoảng 01 năm thì về sống chung cùng gia đình M. Cuộc sống vợ chồng hạnh đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, do chồng chị nghiện ma túy. Từ cuối năm 2023 vợ chồng sống ly thân không ai quan tâm đến ai và đến nay cũng không có biện pháp gì để cải thiện quan hệ vợ chồng, hơn nữa anh M còn phải đi chấp hành án phạt tù. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị tòa án án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
*Bị đơn có lời khai trình bày: Anh chị đăng ký kết hôn năm 2016, kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện M, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn chị D có về làm dâu, quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 vợ chồng mâu thuẫn nguyên nhân do không hợp nhau, do anh nghiện ma túy, vợ chồng ly thân từ đó, nay chị D xin ly hôn anh nhất trí. Hiện nay anh M đang đi chấp hành án phạt tù, anh M đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Về con chung:
Nguyên đơn trình bày: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 30/9/2019; Khi ly hôn chị xin nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng, hiện nay chị đang làm công nhân thu nhập 7.000.000đ/tháng.
Bị đơn có lời khai trình bày: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 30/9/2019; Khi ly hôn: Do anh M đang đi chấp hành án phạt tù nên giao cho chị D nuôi con anh không cấp dưỡng.
Tài sản chung, công sức, công nợ: Hai bên đều không đề nghị giải quyết.
* Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn.
- Về con chung xin nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng;
- Về tài sản, công sức, công nợ: không đề nghị giải quyết.
- Bị đơn vắng mặt có lý do, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn giữa chị D và anh M đã đến mức trầm trọng, đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của chị D.
Về con chung giao cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M vì chị D không yêu cầu. Anh M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở;
Về tài sản, công sức, công nợ không xem xét; chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 15 tháng 4 năm 2024 chị chị Đỗ Thị D, sinh năm 1994; địa chỉ: thôn D, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội, có đơn khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn D, xã M, huyện M, thành phố Hà Nội nên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh đã thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đã nghiêm chỉnh chấp hành theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án, đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét đơn xin ly hôn của chị Đỗ Thị D đối với anh Nguyễn Ngọc M, Hội đồng xét xử thấy: Chị D và anh M kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2016 tại UBND xã M, huyện M, thành phố Hà Nội, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm và cách sống, do anh M nghiện ngập chị khuyên ngăn không được, vợ chồng ly thân không ai quan tâm tới ai từ năm 2023 đến nay, hiện nay anh M vẫn đang đi chấp hành án phạt tù. Xét mâu thuẫn giữa anh M và chị D đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị D xin ly hôn là phù hợp điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung; Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 30/9/2019. Hiện nay con vẫn đang ở cùng với chị D. Khi ly hôn giao cho chị D nuôi con, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M, anh M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công sức, công nợ: Không xem xét.
[5] Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị D được ly hôn anh Nguyễn Ngọc M.
- Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Nguyễn Đỗ Minh Q, sinh ngày 30/9/2019 cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh M vì chị D không yêu cầu, anh M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, công sức, công nợ: không xem xét.
- Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị Đỗ Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008690 ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 328/2024/HNGĐ- ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 328/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn anh M
