Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Huệ.
  2. Ông Hoàng Văn Tuân.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 149/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Quang T, sinh năm 1988.

Quê quán: xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Nơi thường trú: Thôn N, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 (đã chết); Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có một con sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/12/2012 bị Công an phường N, thành phố B xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý.

+ Ngày 09/01/2013 bị Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh B chữa bệnh thời hạn 24 tháng.

+ Ngày 07/01/2013 bị Công an phường T, thành phố B xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

+ Ngày 08/8/2015 bị Công an xã T, huyện V xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 150 ngày 24/11/2015 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; được miễn án phí; chấp hành xong án phạt tù ngày 04/5/2016, đã được xoá án tích.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 84 ngày 11/7/2018 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, được miễn án phí; chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2019, đã được xoá án tích.

+ Bản án hình sự sơ thẩm số 09 ngày 20/01/2020 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành xong án phạt tù ngày 21/5/2020; chấp hành xong án phí ngày 10/8/2020; đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Đình T3, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà A, ngõ B, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số nhà B, ngách D, ngõ D, đường M, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

* Người chứng kiến:

- Bà Phí Thị L1, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Quang T, sinh năm 1988 trú tại thôn N, xã M, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là đối tượng sử dụng chất ma tuý. T quen biết Trần Đình T3, sinh năm 1970, trú tại số nhà A, ngõ B, đường L, phường H, thành phố B.

Khoảng 12 giờ ngày 23/4/2024, Trần Đình T3 sử dụng số điện thoại 0904.013.xxx gọi đến số điện thoại 0982.460.xxx của Đỗ Quang T để nhờ mua hộ 100.000 đồng ma tuý thì T đồng ý nhưng không hứa hẹn khi nào sẽ mua ma tuý và T3 không chuyển tiền trước cho T.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, T đi xe mô tô biển kiểm soát 98M6-7245 từ nhà đến thành phố B mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi, T gọi đến số điện thoại 0862.063.xxx của người tên là H được lưu trong danh bạ là “A Hoàng M” nhà ở khu vực Cầu T, phường M, thành phố B hỏi mua 400.000 đồng ma tuý heroine thì người này đồng ý bán và hẹn đến khu vực C tre sẽ có người đưa ma tuý. Theo T khai đi xe máy đến khu vực Cầu tre thì gặp một người đàn ông đeo khẩu trang đứng trong ngõ. T đưa cho người đàn ông này 400.000 đồng. Người này cầm tiền và chỉ dẫn T đi ra khu vực thùng rác gần đó lấy ma tuý. T đi ra khu vực thùng rác gần đó thì thấy có 01 túi nilon bên trong đựng bọc giấy màu trắng loại giấy ăn bên trong có chứa các gói ma tuý. T cất giấu số ma tuý này vào túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi đến nhà Trần Đình T3 chơi. Khi T vừa đến cửa nhà T3 thì bị Công an phường H phối hợp với Đội CSĐTTP về ma tuý Công an thành phố B kiểm tra. T sợ nên bỏ chạy vào trong nhà, lấy túi nilon đựng ma tuý từ trong túi quần ra rồi ném xuống nền nhà khu vực giữa ghế và tủ trong phòng khách làm văng ra 06 gói giấy bạc chứa ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Quang T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ số vật chứng gồm:

  • - 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng 01 tờ giấy ăn trong đó có 06 gói giấy bạc, trong đó 05 gói giấy đều có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng bạc; 01 gói mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong mỗi gói đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ tại nền nhà khe giữa tủ và ghế ngồi tại phòng khách do Đỗ Quang T ném xuống đất được cho vào 01 phong bì niêm phong ký hiệu “QT”. T khai số ma tuý này là của T mua mục đích để sử dụng.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu AILES, biển kiểm soát 98M6-7245;
  • - Số tiền 4.960.000 đồng;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 vỏ màu tím, lắp sim số 0982.460.832;
  • - 01 điện thoại di động Nokia màu đen;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 5Plus màu đen;
  • - 01 đăng ký xe mô tô số 005528 mang tên Thân Văn B;
  • - 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đỗ Quang T.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định số vật chứng nghi ma tuý thu giữ của Đỗ Quang T khi bắt quả tang. Kết luận giám định số 944/KL-KTHS ngày 27/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:

Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” được niêm phong, gửi giám định:

Trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ, trong túi đựng 01 gói giấy màu trắng (loại giấy ăn):

Chất cục bột màu trắng đựng trong 06 (sáu) gói giấy bạc (trong đó 05 gói giấy bạc có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu trắng bạc và 01 gói giấy bạc có mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng) đều là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 0,289 gam.

Cơ quan điều tra đã cho Đỗ Quang T quan sát ảnh các gói ma tuý đã thu giữ khi bắt quả tang. T xác định đây là số ma tuý mà T đã mua rồi đi đến nhà Trần Đình T3 thì bị Công an phát hiện thu giữ.

Phiếu xét nghiệm chất ma tuý của Công an thành phố B đối với Đỗ Quang T ngày 23/4/2024 dương tính với ma tuý MOR.

Căn cứ lời khai của Đỗ Quang T, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H, sinh năm 1978 ở số nhà B, ngách D, ngõ D, đường M, phường M, thành phố B thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng, lắp sim số 0399.622.123. Tiến hành kiểm tra điện thoại không phát hiện liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Cơ quan điều tra kiểm tra chiếc điện thoại S S9 của T phát hiện thấy có các cuộc gọi đến số điện thoại 0862.063.xxx. Theo T khai liên lạc để mua ma tuý; kiểm tra 02 chiếc điện thoại còn lại không phát hiện liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Cơ quan điều tra đã thu giữ điện tín của số thuê bao 0862.063.677. Kết quả xác định: Chủ thuê bao 0862.063.677 là Siu K, sinh năm 1990 ở xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Theo K khai không sử dụng số thuê bao này, không quen biết ai tên Đỗ Quang T và không giao dịch mua bán ma tuý.

Về xác minh người bán ma tuý cho Đỗ Quang T: Quá trình điều tra, T khai gọi điện cho người tên là H có số điện thoại 0862.063.xxx đặt mua ma tuý. Khi đối chất với Nguyễn Văn H thì T xác định không phải là người bán ma tuý. H khai không quen biết T và không trao đổi mua, bán ma tuý. Do vậy, Cơ quan điều tra không làm rõ được người bán ma tuý.

Đối với người đàn ông đeo khẩu trang bán ma tuý cho Đỗ Quang T ngày 23/4/2024 ở trong ngõ C tre thuộc phường M, thành phố B, T khai không biết thông tin nên Cơ quan điều tra không làm rõ được.

Đối với Trần Đình T3 có gọi điện thoại nhờ T mua hộ 100.000 đồng ma tuý nhưng chưa đưa tiền cho T, không hứa hẹn khi nào mua và mang đến. T khai việc T đi mua ma tuý và mang đến nhà T3 không báo trước cho T3, số ma tuý đã mua là của T để sử dụng cho bản thân, không có ma tuý mua hộ T3 nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Trần Đình T3Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Phiếu xét nghiệm chất ma tuý đối với T3H ngày 23/4/2024 dương tính với ma tuý MOR nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại Nguyễn Văn H chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng, lắp sim số 0399.622.123.

Đối với 01 phong bì đã niêm phong chứa ma túy hoàn lại sau giám định và các vật chứng, tài sản thu giữ của Đỗ Quang T được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

*Tại Bản cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 29 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

*Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu.

*Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo cáo Đỗ Quang T từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định;
  • + Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 vỏ màu tím, lắp sim số 0982.460.832.
  • + Trả lại bị cáo 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng; 01 căn cước công dân số 02408800495 mang tên Đỗ Quang T; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 5Plus màu đen; 01 đăng ký xe mô tô số 005528 mang tên Thân Văn B; 01 xe mô tô nhãn hiệu AILES, biển kiểm soát 98M6-7245 nhưng cần tạm giữ 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[3] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 23/4/2024, Đỗ Quang T mua của người không quen biết 06 gói nhỏ ma tuý Heroine với giá 400.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân. T cất giấu số ma tuý này trong túi quần bên phải rồi đi đến nhà Trần Đình T3 ở số A, ngõ B, đường L, phường H, thành phố B thì bị Công an phường HCông an thành phố B bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Kết quả giám định xác định số ma tuý mà Đỗ Quang T tàng trữ có khối lượng 0,289 gam, loại Heroine. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật trị an xã hội. Ma tuý là hiểm hoạ xã hội, làm sói mòn đạo đức và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Đảng và Nhà nước đang quyết tâm loại trừ tệ nạn này. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xét xử về hình sự, 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ;
  • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 vỏ màu tím, lắp sim số 0982.460.832 là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội.
  • - Trả lại bị cáo 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng; 01 căn cước công dân số 02408800495 mang tên Đỗ Quang T; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 5Plus màu đen; 01 đăng ký xe mô tô số 005528 mang tên Thân Văn B; 01 xe mô tô nhãn hiệu AILES, biển kiểm soát 98M6-7245 do đều không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Đối với Trần Đình T3 có gọi điện thoại nhờ T mua hộ 100.000 đồng ma tuý nhưng chưa đưa tiền cho T, không hứa hẹn khi nào mua và mang đến. T khai việc T đi mua ma tuý và mang đến nhà T3 không báo trước cho T3, số ma tuý đã mua là của T để sử dụng cho bản thân, không có ma tuý mua hộ T3 nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[10] Đối với Trần Đình T3Nguyễn Văn H có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Phiếu xét nghiệm chất ma tuý đối với T3H ngày 23/4/2024 dương tính với ma tuý MOR nên Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[11] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Đỗ Quang T 01(một) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.

2. Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã niêm phong bên trong chứa ma túy hoàn lại sau giám định;
  • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 vỏ màu tím, lắp sim số 0982.460.832.
  • - Trả lại bị cáo 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng; 01 căn cước công dân số 02408800495 mang tên Đỗ Quang T; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 5Plus màu đen; 01 đăng ký xe mô tô số 005528 mang tên Thân Văn B; 01 xe mô tô nhãn hiệu AILES, biển kiểm soát 98M6-7245 nhưng cần tạm giữ 01 phong bì thư đã niêm phong bên trong chứa số tiền 4.960.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6 Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - CQCSĐT-CA TP Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - UBND x.Minh Đức, h.Việt Yên, Bắc Giang;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 167/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 167/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quang T Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger