Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HS-ST

Ngày 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thanh Hiên

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 138/2024/TLST HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 616/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 639/2024/HSST-QĐ đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: SỐ A P, phường N, quận L, Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số E Chợ C, phường T, quận L, Hải Phòng; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị M; có chồng là Hoàng Minh H1; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25 tháng 12 năm 2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền kinh doanh, ngày 29/8/2020, Nguyễn Thị Hồng H đã cùng chồng là Hoàng Minh H1 (sinh năm 1996, trú tại: số A P, phường N, quận L, Hải Phòng) đến nhà của anh Lê Mạnh Đ (sinh năm 1996) ở số D D, phường D, quận L, Hải Phòng để vay 100.000.000 đồng với lãi suất 2000 đồng/1 triệu/1 ngày. H để lại làm tin cho anh

Đ: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 998168, cấp ngày 28/4/2017, thửa đất số 88A, tờ bản đồ số 31, địa chỉ thửa đất tại tổ B phường V, quận L, Hải Phòng, mang tên bố mẹ H là ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị M và 01 sổ hộ khẩu của H. Sau đó, từ ngày 4/9/2020 đến 19/8/2021 vợ chồng H còn vay của anh Đ thêm 05 lần nữa với số tiền 302.000.000 đồng, đều với lãi suất là 2000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 73%/ năm, gấp 3,6 lần mức lãi suất quy định của Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền vợ chồng H vay của Đ 06 lần là 402.000.000 đồng. Quá trình trả nợ, vợ chồng H đã trả được một phần tiền gốc và lãi. Đến khoảng tháng 6/2021 do nhiều tháng H đóng chậm lãi, anh Đ đề nghị H sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho anh Đ. H đã nói với anh Đ mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để về cho bố mẹ kiểm tra rồi sẽ trả lại ngay. Sau đó H liên lạc với một số điện thoại lạ trên trang Web: http//nhanmaugiaygiare.online đặt làm thuê 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả giống với Giấy chứng nhận đã mượn lại của anh Đ. H đưa lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh Đ và mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật về trả lại bố mẹ.

Đến khoảng tháng 10/2021 do có nhu cầu vay thêm tiền của anh Đ nên H tiếp tục lên trang Web: http//nhanmaugiaygiare.online đặt làm thuê 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Nguyễn Thị Hồng H, số CK 260635, cấp ngày 02/8/2021, thửa đất số 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Tổ A phường T, quận L, Hải Phòng đưa cho anh Đ để làm tin. Ngày 16/10/2021, H và anh Đ chốt nợ với nhau, tổng số tiền H còn nợ anh Đ là 300.000.000 đồng, anh Đức t lãi suất là 1.500 đồng/1 triệu/1 ngày. Anh Đ không cho H vay thêm tiền nữa và yêu cầu H viết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất mang tên Nguyễn Thị Hồng H với giá 300.000.000 đồng. Sau khi chốt nợ, H tiếp tục trả tiền gốc 20.000.000 đồng và lãi cho anh Đ, số tiền gốc H còn nợ anh Đ là 280.000.000 đồng, Anh Đ trả lại sổ hộ khẩu cho H. Đến ngày 09/7/2022 H nhờ mẹ chồng là bà Lê Thị Thu H2 (sinh năm 1975, trú tại: số A T, phường T, quận L, Hải Phòng) trả tiền gốc là 17.400.000 đồng và tiền lãi 12.600.000 đồng cho anh Đ, sau đó gia đình H không còn khả năng trả nợ cho anh Đ nữa. Đến khoảng tháng 5/2023 anh Đ đến nhà H đòi tiền và yêu cầu sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu H không trả tiền. Lúc này H nói giấy tờ anh Đ cầm đều là giả không thể sang tên được. Anh Đ đến Công an quận L trình báo sự việc và giao nộp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã nhận của H và 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (đều là bản chính); 06 giấy vay tiền của H và 01 giấy nhận tiền (đều là bản phô tô).

- Bản kết luận giám định số 212/KL-KTHS (TL) ngày 22/9/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

1. 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CK260635, số vào sổ cấp GCN: CH 00361 mang tên bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm: 1996, CMND số: [...], Địa chỉ thường trú: số E Chợ C, Phường T, Quận L, TP Hải Phòng; Địa chỉ thửa đất: Tổ A phường T, L, TP

Hải Phòng; ghi ngày cấp: 02/08/2021; Nơi cấp UBND quận L, TP Hải Phòng (ký hiệu: A1) là giả.

2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số CH 998168 mang tên ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1964, CMND số: [...] vợ là bà Lê Thị M, sinh năm: 1964, CMND số: [...], Địa chỉ thường trú: số E Chợ C, Phường T, Quận L, TP Hải Phòng; Địa chỉ thửa đất: Tổ B phường V, quận L, TP Hải Phòng; ghi ngày cấp: 28/4/2017; Nơi cấp UBND Quận L, TP Hải Phòng (ký hiệu: A2) là giả và được làm giả bằng phương pháp in màu kỹ thuật số.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Hồng H khai nhận: Việc vay tiền và trả nợ cả hai vợ chồng H đều có sự bàn bạc và cùng thực hiện, còn việc làm giả và đưa 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho anh Đ, H tự thực hiện một mình, không bàn bạc và nói với ai. Ban đầu H đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 998168 cho anh Đ là thật, sau đó khi anh Đ yêu cầu đòi sang tên quyền sử dụng đất, do lo sợ bị bố mẹ phát hiện (H lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không nói cho bố mẹ) và không muốn sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Đ nên H đã mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật và đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa cho anh Đ. H đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK260635 giả cho anh Đ nhằm mục đích làm tin để vay thêm tiền, nhưng anh Đ không cho vay thêm. H chụp ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 998168 thật gửi người làm giả để làm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giống như vậy, còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK260635 Hạnh chụp ảnh chứng minh thư và yêu cầu người làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên H. Số tiền H thuê làm giả 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 30.000.000 đồng, sau đó người làm giả thuê người giao hàng mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến cho H để H trả tiền. H không biết người làm giả trên trang Web: http//nhanmaugiaygiare.online là ai, hiện không còn lưu số điện thoại. Quá trình trả nợ anh Đ, vợ chồng H đã trả cho anh Đ tổng số tiền khoảng hơn 500.000.000 đồng bao gồm cả gốc và lãi, hiện còn nợ 260.000.000 đồng, do hoàn cảnh khó khăn vợ chồng H không còn khả năng trả nợ cho anh Đ nữa và xin anh Đ khi nào có tiền sẽ trả dần.

Anh Lê Mạnh Đ có lời khai phù hợp với lời khai của H. Trong quá trình vay tiền, có lần H mượn lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH998168 nói là mang về cho bố mẹ kiểm tra, sau đó có mang trả lại. Hiện số tiền vợ chồng H trả cho anh Đ là hơn 500.000.000 đồng, tương ứng phần tiền gốc và một phần tiền lãi nên anh Đ không yêu cầu vợ chồng H trả nữa. Anh Đ giao nộp 06 giấy vay tiền của H và 01 giấy nhận tiền đều là bản phô tô vì bản chính anh vẫn giữ để làm căn cứ giải quyết việc trả nợ giữa anh và vợ chồng H.

Triệu tập Hoàng Minh H1, hiện H1 đang đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài từ ngày 22/6/2023 và chưa nhập cảnh về Việt Nam nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L chưa lấy được lời khai.

Đối với đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Hồng H hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ.

Đối với hành vi cho vay lãi của Lê Mạnh Đ và việc Hoàng Minh H1 vắng mặt tại nơi cư trú chưa ghi được lời khai, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L ra Quyết định tách vụ án để tiếp tục xác minh điều tra làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 152/CT-VKS ngày 27/6/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hồng H về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị Hồng H từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 6 và tháng 10 năm 2021, tại số D D, phường D, quận L, Hải Phòng, Nguyễn Thị Hồng H đã có hành vi sử dụng 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đưa cho anh Lê Mạnh Đ mục đích để anh Đ giữ làm tin trong giao dịch vay tiền. Hành vi của Nguyễn Thị Hồng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Bị cáo hai lần sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”.

Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng H về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xét xử nghiêm.

- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bố bị cáo đã từng phục vụ trong quân đội nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, hai lần thực hiện hành vi phạm tội nhưng đều là tội ít nghiêm trọng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, vì vậy không cần thiết phải bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tại ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[ 10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng H phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng H 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng

H cho Ủy ban nhân dân phường T, quận L, Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 2 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Nguyễn Thị Hồng H.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Công an quận Lê Chân;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự: sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger