Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/DS-ST

Ngày: 22 - 05 - 2024

V/v “Tranh chấp đòi tài sản, quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường, ông Phạm Ngọc Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 340/2023/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tài sản, quyền sử dụng đất.” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1963. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1966. Cùng địa chỉ: số H tổ D, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1953. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957. Cùng địa chỉ: tổ C, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị S trình bày:

Ngày 08/01/2008, Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số H04502aA, mang tên ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị S, phần đất có diện tích 4826,0m²; thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 89; mục đích sử dụng: đất trồng lúa, đất tọa lạc phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Nguồn gốc phần diện tích đất là do bà Trần Kim Đ (mẹ bà S) chuyển nhượng cho bà S quản lý sử dụng hợp pháp và được công nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông T1 và bà H canh tác là không đúng, nhiều lần hai bên thương lượng giải quyết nhưng không thành, sự việc được Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L can thiệp nhưng không thành. Do đó, ông T và bà S khởi kiện yêu cầu ông Từ và bà H phải trả lại phần diện tích 4826,0m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04502aA, ngày 08/01/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông T và bà S quản lý sử dụng.

Bị đơn ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện, ông T1 và bà H không đồng ý, do phần đất đã được bà Trần Kim Đ (là mẹ ruột của S, H) đã chuyển nhượng (bán) cho vợ chồng ông T1 và bà H, vì giữa mẹ con với nhau và tình nghĩa gia đình nên không lập giấy tờ chứng minh. Đối với giá trị định giá thống nhất với nguyên đơn không yêu cầu định giá, định giá lại tài sản tranh chấp; thống nhất giá trị định giá trị tài sản do Công ty Đ1 đưa ra và không cần thiết định giá theo giá trị định giá của Hội đồng nhà nước là do quyền sử dụng đất là của gia đình ông T1, bà H; không đồng ý yêu cầu khởi kiện nên việc định giá là không cần thiết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn ông T và bà S trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông T1 và bà H trình bày: Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần tranh luận: Các đương sự không ý kiến trình bày.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách đương sự, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt, của đương sự tại phiên tòa. Về thời hạn xét xử chưa đảm bảo theo quy định pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T, bà Nguyễn Thị S. Buộc ông Nguyễn Đức T1, bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại phần diện tích 4826m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H04502aA, ngày 08/01/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp cho ông T và bà S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho các đương sự. Tại phiên tòa, các đương sự có mặt. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

2

[2] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp phần diện tích 4826,0m² đất tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. Xét yêu cầu khởi kiện của ông T, bà S, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 105, 163 Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp đòi tài sản, quyền sử dụng đất để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật. Phần diện tích đất nguyên đơn tranh chấp được xác định tại phường B, thành phố L nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện: Xét các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang cấp mang tên ông Võ Văn T và bà Nguyễn Thị S, thuộc thửa đất số 130, tờ bản đồ số 89; diện tích 4826,0m²; mục đích sử dụng đất trồng lúa, vị trí khu đất tọa lạc tại phường B, thành phố L, tỉnh An Giang có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn P, thể hiện theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00289 QSDĐ aA, ngày 16/05/1990, thuộc thửa đất số 337, tờ bản đồ số 03; diện tích 4847m², loại đất 2L (BL11,12). Năm 2001, ông P chuyển nhượng cho bà Trần Kim Đ theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (đối với hộ gia đình và cá nhân). Đến năm 2004, bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00289/QSDĐ/aA, ngày 16/06/2004 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp mang tên bà Trần Kim Đ. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông Nguyễn Văn T2, bà Trần Kim Đ (cha mẹ bà S) chuyển nhượng cho ông T và bà S. Xét, nguồn gốc phần diện tích đất tranh chấp giữa các bên thể hiện là của ông T, bà S nhận chuyển nhượng. Các văn bản thỏa thuận chuyển nhượng do cơ quan có thẩm quyền chứng thực; hiện nay phần đất do ông T, bà S được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật, các bên không tranh chấp khiếu nại việc chuyển nhượng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1 và bà H cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là nhận chuyển nhượng của bà Trần Kim Đ (mẹ ruột bà H) và canh tác từ năm 1999 đến nay, nhưng ông bà không đưa ra các tài liệu, chứng cứ có liên quan chứng minh phần diện tích đất là do ông bà nhận chuyển nhượng từ bà Đ. Do đó, xét phần diện tích đất tranh chấp giữa các bên được Ủy ban dân thành phố L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T và bà S là đúng quy định pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và bà S là phù hợp quy định tại các Điều 105, 163, 166 Luật dân sự năm 2015 và Điều 166 Luật Đất đai.

[4] Theo yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ; định giá tài sản, thẩm định giá tài sản tranh chấp của ông T, bà S thể hiện phần diện tích đất tranh chấp được Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 02/04/2024. Về giá trị tài sản tranh chấp do Công ty Cổ phần T3 Việc lập theo chứng thư thẩm định giá số 018-2024/CT.VVAC, ngày 08/04/2024; các đương sự thống nhất giá trị tài sản tranh chấp 2.939.034.000đ, không tranh chấp về giá, không yêu cầu định giá trị lại hoặc bổ sung. Xét đây là ý chí, yêu cầu của các đương sự nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận xác định giá trị phần diện tích đất tranh chấp có giá trị nêu trên để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

3

[5] Từ những phân tích trên cho thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và bà S đối với T1 và bà H, buộc ông T1 và bà H liên đới trách nhiệm trả lại phần diện tích 4826,0m² được giới hạn bởi các điểm 33-28-15- 34- 35-17- 29-31-32 theo bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 02/04/2024.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, yêu cầu khởi kiện của ông T và bà S được chấp nhận nên trả lại cho ông bà mỗi người 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí các số 0002322, 0002323 cùng ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông T1 và bà H mỗi người phải nộp 300.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[7] Về chi phí tố tụng: Căn cứ các Điều 157, 158, 165, 166 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông T1 và bà H liên đới trách nhiệm nộp số tiền 10.600.000đ. Trong đó, 3.400.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo phiếu chi các ngày 09/11/2023, 16/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên; 7.200.000đ chi phí thẩm định giá theo phiếu thu số 0842, ngày 04/04/2024 của Công ty Cổ phần T3 để hoàn trả lại cho ông Võ Văn T, bà Nguyễn Thị H tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Trả lại 600.000đ cho ông T và bà S, đã nhận đủ theo biên bản quyết toán ngày 16/01/2024, ông bà đã nhận đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 2, khoản 6 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 105, 163, 166 Bộ Luật dân sự năm 2015;

Điều 166 Luật đất đai năm 2013;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn T, bà Nguyễn Thị S đối với ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H.

4

Buộc ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H liên đới trách nhiệm trả lại phần diện tích đất có diện tích 4826,0m² thể hiện tại các điểm 33-28-15- 34- 35-17-29-31-32 kèm theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 02/04/2024).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Trả lại cho bà Nguyễn Thị S số tiền 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002322 ngày 04/10/2023 và trả lại cho ông Võ Văn T số tiền 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002323, ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H mỗi người nộp số tiền 300.000đ tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đức T1 và bà Nguyễn Thị H liên đới trách nhiệm nộp số tiền 10.600.000đ. Trong đó, 3.400.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo phiếu chi các ngày 09/11/2023, 16/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên; 7.200.000đ chi phí thẩm định giá theo phiếu thu số 0842, ngày 04/04/2024 của Công ty Cổ phần T3 để hoàn trả lại cho ông Võ Văn T, bà Nguyễn Thị H tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Trả lại 600.000đ cho ông T và bà S, đã nhận đủ theo biên bản quyết toán ngày 16/01/2024, ông bà đã nhận đủ.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)

5

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPLX;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản, quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 168/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản, quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger