TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2024/HS-ST.
Ngày: 21/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phan Anh;
Bà Nguyễn Thị Cờ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 193/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/HSST – QĐ ngày 11/6/2024 đối với bị cáo:
Vũ Thị H, sinh 1977; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: xóm C, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: số B ngõ D phố N, phường Ô, quận Đ, TP .; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Vũ Văn L, sinh 1952; Con bà: Vũ Thị M, sinh 1954; Chồng: Nguyễn Văn B, sinh 1976 (đã chết); Có 01 con sinh năm 1998; D chỉ bản số [...] lập ngày 15/4/2024 tại Công an quận Đ, Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam kể từ ngày 03/4/2024 tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H (có mặt).
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc L1, sinh 1973 và anh Ngô Sỹ L2, sinh 1994. Cùng địa chỉ: số C, ngõ B phố X, phường P, quận Đ, TP . (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2016, Vũ Thị H là người làm giúp việc theo giờ cho gia đình nhà bà Nguyễn Thị Ngọc L1 vào các ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6 và chiều chủ nhật hàng tuần tại nhà bà L1 ở địa chỉ số C, ngõ B phố X, phường P, quận Đ, TP .. Khoảng 14 giờ ngày 03/4/2024, khi H dọn dẹp tại phòng tầng 4 của anh Ngô Sỹ L2 con trai của bà L1, lợi dụng lúc không có ai trong phòng, H lén lút lấy trộm 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trong ngăn kéo tủ dưới cùng bên trái bàn làm việc của L2. Khoảng 14 giờ 30 phút, khi anh L2 về nhà thì phát hiện bị mất 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nên đã trình báo Công an phường P. Công an phường P mời anh L2 cùng H về trụ sở Công an phường để làm rõ.
Tại cơ quan Công an, H đã tự nguyện nộp lại tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng vừa trộm cắp được của anh L2 và trình bày đã nhiều lần lấy trộm tài sản và tiền của bà L1 như sau:
Do biết anh Ngô Sỹ L2 thường để tiền trong ngăn kéo tủ cạnh bàn làm việc tầng 4 nên:
- - Ngày 15/03/2024, H lấy 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.
- - Ngày 18/03/2024, H lấy 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.
- - Ngày 20/03/2024, H lấy số tiền 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng.
- - Ngày 22/03/2024, H lấy 03 lần, tổng số tiền là 1.300.000 đồng.
- - Ngày 27/03/2024, H lấy 02 lần, tổng số tiền là 200.000 đồng.
Tổng số tiền H trộm cắp được tại phòng tầng 4 của L2 từ 15/3/2024 đến 03/4/2024 là 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau khi trộm cắp được tài sản H đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, từ khoảng tháng 3/2023 đến tháng 5/2023, H đã lấy trộm tổng số 06 (sáu) hộp tổ yến, loại yến thô, có trọng lượng 100 gam/hộp tại giá để đồ tầng 5, nhà bà L1. Cụ thể như sau:
- - Lần 1: Khoảng giữa tháng 03/2023, H lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 rồi mang bán cho bà Nguyễn Thị C (Sinh năm: 1965, Trú tại: Số D N, phường Ô, quận Đ, TP .) với giá 500.000 đồng. Số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.
- - Lần 2: Khoảng cuối tháng 03/2023, H tiếp tục lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 sau đó H mang về nhà và sử dụng hết.
- - Lần 3: Khoảng đầu tháng 4/2023, H tiếp tục lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 sau đó H mang về nhà và sử dụng hết.
- - Lần 4: Khoảng giữa tháng 04/2023, H tiếp tục lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 sau đó mang bán cho bà Trịnh Thị H1 (Sinh năm:1949, trú tại: 5 H, phường Ô, quận Đ,TP. Hà Nội) với giá tiền là 1.000.000 đồng/hộp. Số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.
- - Lần 5: Khoảng cuối tháng 04/2023, H tiếp tục lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 sau đó mang bán cho bà Trịnh Thị H1 (Sinh năm:1949, trú tại: 5 H, phường Ô, quận Đ,TP. Hà Nội) với giá tiền là 1.000.000 đồng/hộp. Số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.
- - Lần 6: Khoảng giữa tháng 5/2023, H tiếp tục lấy trộm 01 hộp yến của bà L1 sau đó H mang về nhà và sử dụng cùng người thân hết.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Vũ Thị H: 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Đồng thời đã thu giữ được các đoạn video do camera tại nhà bà L1 ghi lại hình ảnh nội dung liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận định giá số 64/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ, kết luận: “06 (sáu) hộp tổ yến, loại yến thô, trọng lượng 100 gam/hộp, chưa thu hồi, đã sử dụng hết định giá 21.000.000 đồng”.
Người bị hại là bà Nguyễn Thị Ngọc L1 trình bày: bà mua 30 hộp yến có trọng lượng 100 gam/hộp với giá 3.500.000 đồng/hộp để sử dụng và tặng bạn bè. Bà L1 để yến trên giá để ở tầng 5 tại nhà. Qua kiểm tra, bà L1 xác định mất 6 hộp yến phù hợp với lời khai nhận tội của bị can.
Đối với số tiền 500.000 đồng là tài sản đã thu hồi xác định chủ sở hữu là của anh Ngô Sỹ L2. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả tài sản trên cho anh L2.
Đối với bà Trịnh Thị H1 và bà Nguyễn Thị C là người đã mua hộp yến của bị can Vũ Thị H nhưng không biết đây là tài sản do H trộm cắp mang bán, sau khi mua yến của H bà H1 và bà C đã sử dụng hết và không có yêu cầu, đề nghị gì. Do vậy, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.
Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L1 và anh Ngô Sỹ L2. Bà L1 và anh L2 không yêu cầu gì thêm, đồng thời đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.
Cáo trạng số 193/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã quyết định truy tố Vũ Thị H tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu: Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 10 đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, chứng cứ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 5 năm 2023 tại địa chỉ số C, ngõ B phố X, phường P, quận Đ, TP ., Vũ Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 06 lần 06 hộp tổ yến của bà Nguyễn Thị Ngọc L1 có giá trị 21.000.000 đồng để sử dụng và đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Ngoài ra, từ 15/3/2024 đến 03/4/2024, H đã lén lút chiếm đoạt nhiều lần tiền của anh Ngô Sỹ L2 (con trai bà L1, ở cùng địa chỉ) với tổng số tiền là 2.600.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào trong khung hình phạt nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội và gây bất bình trong nhân dân nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định.
Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp nhiều lần nên buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Với tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ điều kiện cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiến sự, gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định; vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Dân sự: bà Nguyễn Thị Ngọc L1 và anh Ngô Sỹ L2 đã nhận được bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên Tòa không xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vũ Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.
2. Căn cứ vào: Điều 106; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị An |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị H trộm cắp tài sản
