|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày 09-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc;
- Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Văn Điểm;
- Ông Nguyễn Quốc Dũng;
- Bà Từ Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn H sinh năm 1969 tại tỉnh Bình Dương; Căn cước công dân số: [...]; nơi cư trú: số B, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: nhặt ve chai; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ và 02 con; tiền sự: không;
Tiền án:
- Ngày 18/8/2016, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 252/2016/HSST, chấp hành án tại Trại giam A, chấp hành xong ngày 22/5/2017.
- Ngày 15/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương tuyên phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số : 248/2019/HSST, chấp hành án tại Trại giam T3, chấp hành xong ngày 20/01/2022.
Nhân thân:
- Ngày 10/7/1987, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- Ngày 15/01/1990, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương) xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- Ngày 11/3/1993, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Sông Bé (nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương) xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.
- Ngày 15/10/1997, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 11 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân” tại theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 89/HSST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2023 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H: Ông Nguyễn Trịnh H1 là Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thiên T1, sinh năm 1965, địa chỉ: nhà T, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 28/6/2023, tổ tuần tra Công an phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương tuần tra địa bàn, khi đến Cổng sau Bệnh viện B thuộc khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương phát hiện Phạm Văn H đang điều khiển xe mô tô biển số 92K2-4103, màu sơn xanh, không có ốp chắn bùn bên ngoài, có biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, H tăng ga bỏ chạy đến trước cổng Bệnh viện B thì H té ngã. Tại vị trí té ngã có 02 gói ny lon hàn kín hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nằm dưới mặt đường ngay đầu xe máy của H. Công an phường L tiến hành tạm giữ, niêm phong 02 gói tinh thể màu trắng, tạm giữ 01 xe mô tô biển số 92K2-4103 và chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T giải quyết theo thẩm quyền.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại phòng trọ số 12, 13 thuộc cơ sở trọ địa chỉ: số A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, phát hiện thu giữ:
Phòng trọ số 12: Không phát hiện, thu giữ.
Phòng trọ số 13: Phát hiện, thu giữ:
- 01 túi nylon màu đen bên trong có chứa:
- 01 túi nylon miệng kéo dính có ghi chữ số “15/3 50/2 20/3” bên trong đựng 40 gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1)
- 01 túi nylon miệng kéo dính có ghi chữ số “50/2” bên trong đựng 35 gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2)
- 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 39 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3)
- 01 túi nylon miệng kéo dính chứa 05 gói nylon hàn kín có ghi “8” đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M4);
- 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng có ghi “25” (ký hiệu M5);
- 08 gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M6);
- 01 bịch nylon màu đen bên trong có 16 ống thủy tinh dạng nỏ.
Bản kết luận giám định số 376/KL-KTHS(MT) ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 8,8839 gam M1); 7,8199 gam (M2); 12,9084 gam (M3); 3,0679 gam (M4); 2,5708 gam (M5); 2,0768 gam (M6); 0,5553 gam (M7).
Quá trình điều tra xác định như sau:
Tháng 6 năm 2024, Phạm Văn H đang nhặt ve chai tại đầu cầu P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một người phụ nữ tên M1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đề nghị Hoàng giữ ma tuý đá và nỏ thuỷ tinh để bán cho người nghiện ma túy, M1 sẽ trả tiền công cho H. H đồng ý nhận ma tuý và nỏ thuỷ tinh của M1 mang về nhà trọ của H tại địa chỉ: Nhà T, số A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương cất giấu. Khi có người mua ma túy, M1 sử dụng số điện thoại 0901.755.xxx gọi vào số điện thoại 0934.621.xxx hoặc 0937168217 của H để báo cho H biết số lượng, giá bán ma túy và số điện thoại người mua ma tuý cho H. Sau khi nhận thông tin của M1, H điện thoại cho người mua và hẹn địa điểm giao ma túy, H nhận tiền và đưa cho M1. M1 trả công cho H 50.000 đồng/gói ma tuý và 10.000 đồng/nỏ thuỷ tinh, H đã nhận bán ma túy và nỏ thủy tinh cho M1 được 02 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất: khoảng 01 tuần trước ngày 28/6/2023, M1 điện thoại hẹn H ra cầu P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, tại đây Mỹ đưa cho H 01 bịch nylon màu đen bên trong có 20 gói nylon hàn kín chứa ma túy đá, loại giá bán 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 10 cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá. H mang về phòng trọ số 13, nhà trọ Lê Thị H2 cất giấu. H bán ma túy cho Phạm Hồng P, sinh năm 1995, nơi thường trú: 82/3, khu phố C, phường L, thành phố T khoảng 10 lần (không nhớ rõ ngày cụ thể) loại 200.000 đồng/gói, lần gần nhất Hoàng bán ma túy cho P vào ngày 25/6/2024 tại khu vực gần cổng sau Bệnh viện B, và bán hết cho người mua (không rõ họ tên, địa chỉ) theo yêu cầu của Mỹ. M1 trả công 1.100.000 đồng (một triệu một trăm nghìn đồng) cho H, trong đó 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền bán 20 bịch ma túy đá và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) tiền bán 10 cái nỏ thủy tinh.
- Lần thứ hai: Chiều ngày 27/6/2023, M1 điện thoại hẹn H ra cầu P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Mỹ nhận 01 túi nylon màu đen bên trong có 90 gói nylon chứa ma túy loại 200.000 đồng/gói, 50 gói nylon chứa ma túy loại 300.000 đồng/gói, 04 gói nylon chứa ma túy loại 600.000 đồng/gói, 01 gói nylon chứa ma túy loại 1.500.000 đồng và 20 cái nỏ thủy tinh, H đem về phòng trọ số 13 nhà trọ Lê Thị H2 cất giấu trên nóc nhà tắm để bán theo yêu cầu của Mỹ. Tối ngày 27/6/2023, H đã bán 02 gói ma túy đá giá 200.000 đồng/gói và 01 cái nỏ thủy tinh giá 20.000 đồng cho một thanh niên tại khu vực cầu Ô, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sáng ngày 28/6/2023, H đã bán nhiều gói nylon ma túy đá giá 200.000 đồng/gói và 300.000 đồng/gói và 03 cái nỏ thủy tinh cho nhiều người (không rõ nhân thân lai lịch) theo yêu cầu của Mỹ. Trưa cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô biển số 92K2-4103 đi giao 02 gói ma túy đá (01 gói giá 200.000 đồng và 01 gói giá 300.000 đồng) cho người mua theo yêu cầu của M1 tại khu vực cổng sau Bệnh viện B thuộc phường L theo yêu cầu của Mỹ thì bị Công an phường L, thành phố T yêu cầu dừng xe kiểm tra, thu giữ của H 02 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M7).
Xử lý vật chứng:
- 07 (bảy) bì thư niêm phong (ký hiệu 376M1/PC09, 376M2/PC09, 376M3/PC09, 376M4/PC09, 376M5/PC09, 376M6/PC09 và 376M7/PC09) được niêm phong chung bằng giấy niêm phong có chữ ký của Phạm Văn H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (cán bộ trả mẫu), Tô Thanh T2 (cán bộ nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong đều chứa chất ma túy còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 376 ngày 06 tháng 7 tháng 2023 của phòng K Công an tỉnh B; 16 ống thủy tinh dạng nỏ là các vật chứng của vụ án nên đề nghị tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số IMEI 1: 350085539150687, số IMEI 2: 350085539650686 bên trong có gắn 02 sim, sim 1 thuê bao số: 0934621052, sim 2 thuê bao số: 0937168217 của Phạm Văn H sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 (một) xe mô tô 02 bánh (kiểu dáng Wave) nhãn hiệu: STAR, biển số 92K2-4103 của Phạm Văn H có nguồn gốc do ông Bùi Đức H3, sinh năm: 1970, địa chỉ: khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng ông H3 không có mặt tại địa phương. Năm 2008, ông Nguyễn Thiên T1, sinh năm: 1965, địa chỉ: Nhà T khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương mua chiếc xe trên của người khác (có làm giấy mua bán viết tay nhưng đã thất lạc). Năm 2022, ông T1 cho Phạm Văn H sử dụng làm phương tiện đi lại. Ông T1 không có nguyện vọng lấy lại chiếc xe trên. Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đề nghị Ban biên tập B1 về việc thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 92K2-4103 trên phương tiện thông tin đại chúng 03 kỳ liên tiếp nhưng đến nay không có cá nhân nào đến liên hệ giải quyết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương sẽ chuyển vật chứng trên đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với số tiền thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy: H nhận cất giấu ma túy và giúp đối tượng M1 bán ma túy cho người mua theo yêu cầu của Mỹ. M1 đã trả công cho H 1.100.000 đồng (trong đó 1.000.000 đồng tiền bán 20 bịch ma túy đá, 100.000 đồng tiền bán 10 cái nỏ thủy tinh) cần buộc H nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
Tại Cáo trạng số 207/CT-VKSBD.P1 ngày 08/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định: truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251; tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm đ khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội: tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, và các chứng cứ khác có tại hồ sơ, nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H:
- Mức án từ 16 (mười sáu) năm đến 17 (mười bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Mức án từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là từ 22 năm đến 23 năm tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H là ông Nguyễn Trịnh H1 trình bày: thống nhất về tội danh, điều khoản mà Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo; thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo; áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; tuy nhiên mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá nặng; ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo H thống nhất với phần trình bày của người bào chữa; bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm được trở về đoàn tụ với gia đình và làm lại từ đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: vào tháng 6 năm 2024, Phạm Văn H được đối tượng tên M1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đưa ma túy và nỏ thủy tinh cho H cất giấu để bán và được M1 trả công 50.000 đồng/gói ma tuý và 10.000 đồng/nỏ thuỷ tinh. Bị cáo H đã bán ma túy và nỏ thủy tinh được 02 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất: khoảng 01 tuần trước ngày 28/6/2023, M1 giao cho H 01 bịch nylon màu đen bên trong có 20 gói nylon hàn kín chứa ma túy, loại giá 200.000 đồng/túi và 10 cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy đá. H mang về phòng trọ cất và bán theo yêu cầu của M1 và được M1 trả công 1.100.000 đồng.
- Lần thứ hai: chiều ngày 27/6/2023, H gặp M1 nhận 01 túi nylon màu đen bên trong có 145 gói nylon chứa ma túy và 20 cái nỏ thủy tinh, H mang về phòng trọ cất giấu trên nóc nhà tắm. Tối ngày 27/6/2023, H đã bán 02 gói ma túy đá và 01 cái nỏ thủy tinh. Sáng ngày 28/6/2023, H bán nhiều gói nylon ma túy đá và 03 cái nỏ thủy tinh. Trưa cùng ngày, khi H đi giao 02 gói ma túy đá cho người mua theo yêu cầu của Mỹ tại Cổng sau bệnh viện B, phường L thành phố T, tỉnh Bình Dương thì bị Công an phường L yêu cầu kiểm tra, phát hiện và thu giữ 02 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, kết luận giám định là Methamphetamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương tiến khám xét khẩn cấp phòng trọ của Phạm Văn H, phát hiện và thu giữ 16 cái nỏ thuỷ tinh dùng để sử dụng ma tuý đá và 37,8830 gam ma tuý loại Methamphetamine.
[3] Bị cáo H đã có hành vi của mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 37,8830 gam ma tuý loại Methamphetamine; và mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý là 30 cái nỏ thuỷ tinh cho các đối tượng khác, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất an ninh trật tự và an toàn xã hội; bị cáo nhận thức được hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật; bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Đối với hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ của Phạm Văn H; Phạm Hồng P có hành vi nhiều lần mua ma túy của H để sử dụng, hiện P đã bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có Công văn đề nghị Công an phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương xử lý vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp.
[8] Đối với đối tượng tên M1, người giao ma tuý và nỏ thuỷ tinh dùng để sử dụng trái phép ma tuý đá cho Phạm Văn H và chỉ đạo H thực hiện mua bán trái phép ma tuý, dụng cụ sử dụng chất ma tuý, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng:
- 07 (bảy) bì thư niêm phong (ký hiệu 376M1/PC09, 376M2/PC09, 376M3/PC09, 376M4/PC09, 376M5/PC09, 376M6/PC09 và 376M7/PC09) bên trong đều chứa chất ma túy còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 376 ngày 06 tháng 7 tháng 2023 của phòng K Công an tỉnh B; 02 (hai) bịch nylon màu đen; 16 (mười sáu) ống thủy tinh dạng nỏ, là các vật chứng thực hiện hành vi phạm tội của vụ án nên tịch thu, tiêu huỷ.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu N, bên trong có gắn 02 sim, sim 1 thuê bao số: 0934621052, sim 2 thuê bao số: 0937168217 của Phạm Văn H sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) xe mô tô 02 bánh (kiểu dáng Wave) nhãn hiệu: STAR, biển số 92K2-4103 của Phạm Văn H có nguồn gốc do ông Bùi Đức H3 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng ông H3 không có mặt tại địa phương. Năm 2008, ông Nguyễn Thiên T1, sinh năm: 1965, địa chỉ: nhà T, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương mua chiếc xe trên của người khác (có làm giấy mua bán viết tay nhưng đã thất lạc). Năm 2022, ông T1 cho Phạm Văn H sử dụng làm phương tiện đi lại. Ông T1 không có nguyện vọng lấy lại chiếc xe trên. Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đề nghị Ban biên tập B1 về việc thông báo tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 92K2-4103 trên phương tiện thông tin đại chúng 03 kỳ liên tiếp nhưng đến nay không có cá nhân nào đến liên hệ giải quyết nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền thu lợi từ việc mua bán trái phép chất ma túy: H nhận cất giấu ma túy và giúp đối tượng M1 bán ma túy cho người mua theo yêu cầu của Mỹ. M1 đã trả công cho H 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng H đã tiêu xài hết nên cần buộc H nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
[10] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn H là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
[12] Về án phí sơ thẩm: bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm đ khoản 2 Điều 254; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Phạm Văn H 16 ( mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”;
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) buộc bị cáo Phạm Văn H phải chấp hình phạt chung cho cả 02 tội là 22 (hai mươi hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2023.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tịch thu tiêu hủy:
- 07 (bảy) bì thư niêm phong ký hiệu 376/PC09-M1, 376/PC09-M2, 376/PC09-M3, 376/PC09-M4, 376/PC09-M5, 376/PC09-M6 và 376/PC09-M7, được dán chung bằng giấy niêm phong có chữ ký của Phạm Văn H (người chứng kiến), Nguyễn Ngọc D (cán bộ trả mẫu), Tô Thanh T2 (cán bộ nhận mẫu) và dấu đỏ niêm phong của phòng KTHS Công an tỉnh B; bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 376/KL-KTHS(MT) ngày 06/7/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh B;
- 02 (hai) bịch nylon màu đen;
- 16 (mười sáu) ống thủy tinh dạng nỏ.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động phím bấm Nokia, Model: TA-1235 màu đen, số imeil: 350085539150687, imei2: 350085539650686 bên trong gắn 02 sim, bị móp pin, không kiểm tra tình trạng hoạt động;
- 01 (một) xe mô tô 02 bánh (kiểu dáng Wave) nhãn hiệu: STAR, mang biển kiểm soát 92K2-4103, có số khung không đổi, không phát hiện dấu vết cắt hàn, đục sửa, số máy đóng mới. Số khung: *LS5XCGLC8X2D01199*, số máy đóng mới: 152FMC*990115752* (theo kết luận giám định số 3332/KL-KTHS (SKSM) ngày 10/7/2024 của phòng KTHS Công an tỉnh B); xe không bửng, không hộp xích, không ốp nhựa bên phải, không kính chiếu hậu bên phải, không đèn sau, đèn trước và ốp đèn trước bị bể; không kiểm tra tình trạng hoạt động.
(Vật chứng đã chuyển giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024).
Buộc Phạm Văn H nộp lại số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm nghìn) đồng, để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Lộc |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Mua bán dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép ma túy
