Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HS-ST

Ngày 11 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Văn Khanh

Ông Nguyễn Văn Xuân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lò Văn L, sinh năm 1996;

Nơi sinh và nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện Q, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn L1 và bà Cà Thị H; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Chưa có

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024, đến ngày 15/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn L: Bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H.

Vắng mặt.

Người làm chứng:

Ông Lê Trọng K, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn L, sinh năm 1996 ở bản T, xã N, huyện Q, tỉnh Sơn La, là đối tượng nghiện ma tuý. L hiện thuê trọ tại thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 11 giờ ngày 12/8/2024, L đi bộ từ phòng trọ đến khu vực thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng thì gặp một nam thanh niên khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ), L hỏi mua 200.000đ ma tuý, loại Heroine thì người này đồng ý cầm tiền và đưa cho L 01 bao thuốc lá bên trong có 04 gói giấy ô ly màu trắng có chứa ma tuý. Sau đó, L cất giấu số ma tuý vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ về hướng thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Khi L đi đến đoạn đường thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Tổ công tác Công an huyện V kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: thu tại túi quần phía trước bên trái quần L đang mặc 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long có vỏ ngoài màu vàng, bên trong chứa 04 gói giấy nhỏ (loại giấy ô ly màu trắng), bên trong 04 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục và bột, (niêm phong ký hiệu M). Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với L, kết quả xác định L dương tính với ma tuý, loại Heroine.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lò Văn L ở thôn M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản thông báo kết luận giám định sơ bộ và bản Kết luận giám định đều số 549/KL-KTHS(MT), ngày 12/8/2024 và ngày 15/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ghi ký hiệu “M”, có khối lượng là 0,220g, là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục các chất ma túy và tiền chất. H1 lại mẫu vật giám định trong niêm phong ghi số 549/KL-KTHS(MT) của phòng K1 Công an tỉnh H.

Bản cáo trạng số 149/CT-VKS, ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn L từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 549/KL-KTHS(MT) của Phòng K1 Công an tỉnh H

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm như sau: Nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo theo Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thái độ ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người bào chữa, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người bào chữa, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/8/2024, tại trục đường thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Lò Văn L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,220 gam ma túy loại Heroine trên người với mục đích sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ trên người 0,220g ma túy loại Heroin để sử dụng như nêu ở trên của Lò Văn L đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ rằng Heroine là chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc sử dụng, nhưng vẫn cố ý vi phạm. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật yếu kém của bị cáo. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy, dù với mục đích sử dụng hay mục đích khác, đều gây ra những tác động tiêu cực nghiêm trọng đến cộng đồng. Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe, tương lai của người sử dụng mà còn là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các loại tội phạm khác, gây bất ổn xã hội, đặc biệt trong những địa bàn kinh tế khó khăn, nơi nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế.

Để trừng trị, đồng thời cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện: bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 549/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên là mẫu vật hoàn lại sau giám định, cần tịch thu cho tiêu hủy.

Đối với nam thanh niên bán ma tuý cho Lâm, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng chưa rõ nhân thân, lai lịch nên sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Lâm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn Lâm 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 549/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Văn Lâm và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lò Văn Lâm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA)

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện;
  • - CQSCĐT Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger