Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:168/2024/HS-ST

Ngày 30 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái.

Các Hội thẩm Nhân dân : Ông Bùi Thanh Bình và bà Vũ Thị Kim Dung

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Văn Hùng - Thư ký Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Tuấn Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại nhà văn hóa thôn Đ, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2024/HS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 170/2024/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Văn H, sinh ngày 09/10/1989, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Trương Thị C (Đã chết); vợ: Ôn Thị Lan P; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không:

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V, (có mặt).

Người làm chứng: Ông Trần Văn Quảng, sinh năm 1960, trú tại: TDP T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc,( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 26/6/2024, tại khu vực đường Đ thuộc TDP T, phường Đ, thành phố V, Tổ công tác Công an thành phố V làm nhiệm vụ trên địa bàn thì phát hiện Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ gồm 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất cục, bột màu trắng nghi là ma tuý được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng định pháp luật, ký hiệu A1.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, H đi xe bus từ huyện B lên thành phố V để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến bưu điện tỉnh V, H xuống xe và đi bộ một mình vào khu vực cổng trường Tiểu học K thuộc phường Đ, thành phố V. Tại đây H gặp một nam giới khoảng 50 tuổi (H không biết tên tuổi, địa chỉ của người này) và hỏi mua của nam giới này 01 gói ma túy loại Heroine với giá 250.000₫ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy H cầm gói giấy ma túy vừa mua vào lòng bàn tay phải và đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi ra đến đường Đ thuộc TDP T, phường Đ thì H bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra về ma tuý Công an thành phố V phối hợp với Công an phường Đ kiểm tra hành chính. Do lo sợ bị phát hiện, H vứt gói ma túy vừa mua được xuống mặt đất thì bị Tổ công tác phát hiện, thu giữ tang vật như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số 1897/KL-GĐ ngày 01/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1135 gam (Không phảy một một ba lăm gam, không kể bao bì), loại Heroine. H1 lại mẫu vật còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1= 0,0773 gam mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1756”, trên giáp lai có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và được đóng dấu tròn đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh V.

Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho H biết, bị cáo không có thắc mắc hay khiếu nại gì.

Tại Cáo trạng số: 171/CT-VKSVY - VP ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa Trần Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật

2

Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/6/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1= 0,0773 gam mẫu và toàn bộ bao gói, được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ 1756”, trên giáp lai có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và được đóng dấu tròn đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh V.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trần Văn H tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 26/6/2024, tại khu vực đường Đ thuộc TDP T, phường Đ, thành phố V, Tổ công tác Công an thành phố V làm nhiệm vụ trên địa bàn thì phát hiện Trần Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng cho bản thân. Thu giữ của H 01 gói giấy nhỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng, qua giám định là ma túy có khối lượng 0,1135g, loại Heroine.

Xét tình chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, ma túy cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh truyền nhiễm, cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

3

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì thiếu sự tu dưỡng, ham chơi để rồi mắc vào tệ nạn xã hội, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc cách ly ra khởi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử, lượng ma túy tàng trữ không nhiều (0,1135g), tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa luôn “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, là người dân tộc thiểu số, có ông ngoại là Trương Ngọc B được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng 3, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, chỉ cần phạt bị cáo mức án như đề nghị của vị đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người nam giới (H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này chỉ biết người này khoảng 50 tuổi). Qua nói chuyện, H biết người này bán ma túy nên hỏi và mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 250.000đ. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an phường Đ, thành phố V về người nam giới có đặc điểm như lời khai của H nhưng chưa xác định được người nam giới này là ai. Ngoài lời khai của H không có chứng cứ, tài liệu nào khác để xác định chính xác người đã bán ma tuý cho H là ai, ở đâu. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 250.000đ H sử dụng để mua ma túy, quá trình điều tra xác định đây là tiền do H lao động hợp pháp mà có. Tuy nhiên, cơ quan CSĐT không thu giữ được số tiền trên do vậy không đề nghị xử lý.

Đối với 0,0773g ma tuý loại Heroine cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 bao gói giấy “MẪU TRẢ 1756” hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

4

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt Trần Văn H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/6/2024).

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 0,0773g ma tuý loại Heroine cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong 01 bao gói giấy “MẪU TRẢ 1756” hoàn lại sau giám định.

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Minh Ái

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger