|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày 26 – 9 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh
2. Ông Trần Xuân Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Xuân N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 06/5/1995 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP R, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Xuân D, sinh năm 1974, con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Có vợ là: Dương Thị Thu T, sinh năm 1994 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến ngày 03/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang biện pháp “Bảo lĩnh”. Có mặt.
2. Nguyễn Văn D1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/02/1994 tại Lạng Sơn; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết), con bà: Chương Thị H1, sinh năm 1972; Có vợ là: Mỗ Thị Thủy T1 (đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 2015; Tiền án: 01, cụ thể: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2017/HS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt Nguyễn Văn D1 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 09/02/2023, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”; Tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Nguyễn Văn D1 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam S1 – Cục C2 Bộ C3. Có mặt.
3. Trần Văn T2; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 11/8/2001 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP D, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Trần Văn T3, sinh năm 1966, con bà: Trần Thị L, sinh năm 1965; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
4. Dương Văn T4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 14/6/1995 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP D, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Dương Văn Đ1, con bà: Phạm Thị T5, sinh năm 1962; Có vợ là: Nguyễn Thị T6, sinh năm 2002 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0046364/QĐ-XPHC ngày 22/10/2018 của C4 (nay là thành phố) P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán số lô, số đề” đối với Dương Văn T4 bằng hình thức “Phạt tiền” với số tiền 350.000đ, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định và được xóa vi phạm theo quy định. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang biện pháp “Bảo lĩnh”. Có mặt
5. Lê Nhật A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/7/2001 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: TDP L, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông: Lê Xuân V, sinh năm 1979, con bà: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1980; Có vợ là: Vũ Bích N1, sinh năm 2002, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/01/2024 đến ngày 18/03/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ “Tạm giam” sang biện pháp “Bảo lĩnh”. Có mặt.
- Bị hại: Anh Đào Văn Â, sinh năm 1980; Nơi cư trú: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đào Thị H2, sinh năm 1982, Nơi cư trú: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt
- Anh Hà Tiến N2; sinh năm 1988; Nơi cư trú: TDP G, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1997; Nơi cư trú: TDP Đ, phường H, thành phố P, Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Vũ Xuân T8, sinh năm 1978; Nơi cư trú: TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: TDP G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Dương Thị Thu T, sinh năm 1994, Nơi cư trú: TDP R, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt
- Người chứng kiến:
- Ông Đàm Văn T9, sinh năm 1959; Nơi cư trú: TDP A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Đào Văn Â, sinh năm 1980, có địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố P làm nghề lái xe taxi, vào khoảng 23 giờ 20 phút ngày 05/4/2023 anh  chở chị Dương Thị Thu T, sinh năm 1994, cùng với con gái chị T là cháu Nguyễn Kim N3, sinh năm 2022, có địa chỉ Tổ dân phố R, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (là vợ của Nguyễn Xuân N) trên xe taxi của anh  mang BKS 20A -275.13 đi từ nhà riêng của chị T tại Tổ dân phố R, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến địa bàn phường B và phường Đ để tìm Nguyễn Xuân N nhưng không tìm thấy N. Quá trình chở chị T đi tìm N, anh  có lời lẽ trêu ghẹo, tán tỉnh chị T. Đến tối ngày 06/4/2023 chị T có kể lại việc chị T bị anh  trêu ghẹo cho Nguyễn Xuân N nghe. Do bực tức việc chị T bị anh  trêu ghẹo nên N đã gọi điện thoại cho anh  và hẹn gặp anh  ra để nói chuyện, anh  đồng ý. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 07/4/2023 N gặp anh  tại quán sữa chua “Cô T10” có địa chỉ tại Tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do anh Hà Tiến N2, sinh năm 1988, địa chỉ: TDP G, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên quản lý. Lúc này, ở quán có Nguyễn Văn D1 (là bạn của N) và là nhân viên của quán sữa chua “Cô T10”, quá trình N và anh  nói chuyện thì có thêm bạn của N là Dương Văn T4, Lê Nhật A, Trần Văn T2 và Nguyễn Văn T7 (sinh năm 1997, trú tại TDP Đ, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) đi qua quán nhìn thấy N nên vào và ngồi nói chuyện cùng. Tại đây, N hỏi anh  đã có những lời lẽ trêu ghẹo gì với chị T nhưng anh  chỉ nói “Hôm đấy anh say rượu, thôi đàn ông tính gì em” nhưng do bức xúc nên N đã dùng chân phải đá vào chân của anh  thì anh  đứng dậy, Nhật A lao vào dùng tay phải đấm 02 đến 03 nhát vào vùng mặt của anh Â. Sau đó anh  bỏ chạy ra đường và gọi điện thoại cho anh Vũ Xuân T8, sinh năm 1978, trú tại TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến đón. Khoảng 2 phút sau Vũ Xuân T8 đi ô tô đến và anh  chạy ra gần vị trí ô tô của Vũ Xuân T8 thì Dương Văn T4 cầm chiếc ghế gấp làm bằng inox ném về phía anh  nhưng không trúng và T4 bị trượt ngã xuống đất. Đồng thời N và Nhật A cầm chiếc ghế gấp làm bằng inox cùng T2 và D1 đuổi đánh anh Â. Khi T2 đuổi kịp anh  thì T2 dùng chân phải đạp vào người anh  làm anh  bị ngã ra đường, sau đó N dùng ghế gấp bằng inox đánh liên tiếp vào chân, tay của anh  còn D1 dùng chân đá liên tiếp vào người và vùng mặt của anh Â. Thấy vậy, Vũ Xuân T8 cùng với người dân xung quanh ra can ngăn thì sự việc kết thúc, các đối tượng bỏ về còn anh  được đưa đến bệnh viện Đ2, thành phố P cấp cứu sau đó được chuyển xuống Bệnh viện H4, thành phố Hà Nội điều trị đến ngày 17/4/2023 thì ra viện .
Ngày 07/4/2023 Công an phường B đã đến hiện trường lập biên bản sự việc và thu giữ 11 chiếc ghế gấp bằng inox màu xanh niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A2. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ việc và thu giữ tại hiện trường: 02 vị trí dấu vết vật chất màu đỏ ghi máu, niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, M2; 01 chiếc giày bên phải và 01 chiếc giày bên trái niêm phong ký hiệu A1.
Ngày 08/4/2023 anh Đào Quang V1, sinh năm 2002 là con trai anh  đã gửi đơn trình báo đến cơ quan Công an phường B để nghị giải quyết. Ngày 14/4/2023 Công an phường B đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại hồ sơ bệnh án ngoại khoa ngày 07/4/2023 của Bệnh viện Đ2 và hồ sơ bệnh án ngoại khoa ngày 17/4/2023 của Bệnh viện H4 thể hiện: Đào Văn  vào bệnh viện lúc 09 giờ 14 phút ngày 07/4/2023, vết thương hở ở đầu, tổn thương nông tác động nhiều vùng cơ thể, theo dõi chấn thương sọ não, đụng giập lồng ngực, chấn thương cột sống thắt lưng. Sau đó chuyển đến Bệnh viện H4 điều trị chấn thương cột sống 0 L3 và gãy thành trong ổ mắt (P) từ ngày 07/4/2023 đến ngày 17/4/2023 thì ra viện.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 609/KLTTCT-TTPY ngày 20/7/2023 của Trung tâm P, Sở Y kết luận: Xẹp 01 thân đốt sống L3, vỡ xương ổ mắt phải, gãy thành trong xoang hàm phải, hiện tại có 01 sẹo phần mềm KT lớn và 02 sẹo KT nhỏ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Văn  tại thời điểm giám định là 34% (Ba mươi tư phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Tại bản Kết luận giám định số: 4418/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của V2, Bộ C3 kết luận: Các mẫu vật chất màu nâu đỏ nghi máu ghi thu tại hiện trường (ký hiệu M1 và M2) đều là máu người và đều là máu của Đào Văn Â.
* Vật chứng của vụ án:
- 11 (mười một) ghế có hình dạng tương tự nhau, ghế gấp được làm bằng khung kim loại, phần mặt ghế và lưng ghế làm bằng vải màu xanh rêu, hình dạng ghế khi gập có chiều dài 70cm, hình dạng ghế khi mở chiều cao là 70cm, mặt ghế có kích thước(36x36)cm, tâm cao cách đất 32cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hà Tiến N2, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh N2 quản lý, sử dụng.
- 01 (một) chiếc giày trái và 01 (một) chiếc giày phải, hai chiếc giày có màu nâu, kích cỡ số 42. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Đào Văn Â, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh  quản lý, sử dụng;
- 02 (hai) đoạn video trong đĩa CD do anh Nguyễn Đình T11 (sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố D, phường B, thành phố P) và anh Nguyễn Trung H3 (sinh năm 1996, trú tại xóm C, xã M, thành phố P) giao nộp niêm phong trong phong bì giấy màu trắng kí hiệu C được chuyển theo hồ sơ vụ án.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố bị hại Đào Văn  và các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4, Lê Nhật A chưa thỏa thuận được với nhau về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4, Lê Nhật A về tội “Cố gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4, Lê Nhật A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 mức án từ 05 (Năm) năm đến 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc Nguyễn Văn D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù đến 06 (Sáu) năm 09 (Chín) tháng tù.
- 2.2. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N mức án từ 42 đến 48 tháng tù
- 2.3. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T2 mức án từ 36 đến 42 tháng tù
- 2.4. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn T4 mức án từ 36 đến 42 tháng tù
- 2.5. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Nhật A mức án từ 36 đến 42 tháng tù
- 3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 274, Điều 275, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4, Lê Nhật A đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Đào Văn  số tiền 200.000.000đ. Số tiền bồi thường trên phù hợp với thiệt hại thực tế do các bị cáo đã gây ra cho anh  nên việc người bị hại anh  tiếp tục yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm 100.000.000đồng là không có căn cứ nên không chấp nhận.
- 4. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 (hai) đoạn video trong đĩa CD do anh Nguyễn Đình T11 (sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố D, phường B, thành phố P) và anh Nguyễn Trung H3 (sinh năm 1996, trú tại xóm C, xã M, thành phố P) giao nộp
- 5. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo: đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ –UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất, được cải tạo tại địa phương để thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4, Lê Nhật A tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, biên bản thu giữ vật chứng, dữ liệu trích xuất camera và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do trước đó Nguyễn Xuân N có mâu thuẫn anh Đào Văn  từ trước (N cho rằng anh  trước đó có lời lẽ trêu ghẹo vợ N) nên N đã gọi điện thoại cho anh  và hẹn gặp anh  ra để nói chuyện, anh  đồng ý. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 07/4/2023 N gặp anh  tại quán sữa chua “Cô T10” có địa chỉ tại Tổ dân phố A, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây, N hỏi anh  đã có những lời lẽ trêu ghẹo gì với chị T nhưng anh  chỉ nói “Hôm đấy anh say rượu, thôi đàn ông tính gì em” nhưng do bức xúc nên N đã dùng chân phải đá vào chân của anh  thì anh  đứng dậy, Nhật A lao vào dùng tay phải đấm 02 đến 03 nhát vào vùng mặt của anh Â. Sau đó anh  bỏ chạy ra đường và gọi điện thoại cho anh Vũ Xuân T8, sinh năm 1978, trú tại TDP T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đến đón. Khoảng 2 phút sau Vũ Xuân T8 đi ô tô đến và anh  chạy ra gần vị trí ô tô của Vũ Xuân T8 thì Dương Văn T4 cầm chiếc ghế gấp làm bằng inox ném về phía anh  nhưng không trúng và T4 bị trượt ngã xuống đất. Đồng thời Nhật A cầm chiếc ghế gấp làm bằng inox đuổi theo nhưng sau đó do Nhật A trượt chân ngã ra đường nên Nhật A không đuổi nữa, lúc này chỉ còn N, T2 và D1 đuổi đánh anh Â. Khi T2 đuổi kịp anh  thì T2 dùng chân phải đạp vào người anh  làm anh  bị ngã ra đường, sau đó N dùng ghế gấp bằng inox đánh liên tiếp vào chân, tay của anh  còn D1 dùng chân đá liên tiếp vào người và vùng mặt của anh Â. Thấy vậy, Vũ Xuân T8 cùng với người dân xung quanh ra can ngăn thì sự việc kết thúc, các đối tượng bỏ về còn anh  được đưa đến bệnh viện Đ2, thành phố P cấp cứu sau đó được chuyển xuống Bệnh viện H4, thành phố Hà Nội điều trị đến ngày 17/4/2023 thì ra viện.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 609/KLTTCT-TTPY ngày 20/7/2023 của Trung tâm P, Sở Y kết luận: Xẹp 01 thân đốt sống L3, vỡ xương ổ mắt phải, gãy thành trong xoang hàm phải, hiện tại có 01 sẹo phần mềm KT lớn và 02 sẹo KT nhỏ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Văn  tại thời điểm giám định là 34% (Ba mươi tư phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Hành vi, ý thức của các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 64/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;...”
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật Hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội bị cáo N cho rằng do bực tức chuyện vợ bị cáo bị anh Đào Văn  trêu ghẹo nên các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy:
4.1. Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương, các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2 và Lê Nhật A không có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.
Đối với bị cáo Dương Văn T4, bị cáo đã từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán số lô, số đề” vào năm 2018, cụ thể: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0046364/QĐ-XPHC ngày 22/10/2018 của C4 (nay là thành phố) P đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua bán số lô, số đề” đối với Dương Văn T4 bằng hình thức “Phạt tiền” với số tiền 350.000đ (bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính). Đối chiếu quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính bị cáo đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm theo quy định.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn D1, xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Bởi lẽ, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã bị xét xử hai lần về tội phạm liên quan đến ma túy cụ thể: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2017/HS-ST ngày 22/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt Nguyễn Văn D1 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Nguyễn Văn D1 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đồng thời sau khi phạm tội các bị cáo đã khẩn chương khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội mà mình gây ra thể hiện qua việc các bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 200.000.000đ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, tại đơn xin vắng mặt của bị hại là anh Đào Văn  thể hiện bị hại Âu xin giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A. Mặt khác, bị cáo Dương Văn T4 có ông N4 là ông Phạm Hồng D2 là người có công với nhà nước được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhì nên có căn cứ cho các bị cáo N, T2, T4, D1, Nhật A được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
4.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Dương Văn T4 và Lê Nhật A không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Riêng đối với bị cáo Nguyễn Văn D1, xét thấy năm 2017 D1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 20/2017/HS-ST ngày 22/9/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 09/02/2023, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” và bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
4.4. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự, nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Song, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Nguyễn Xuân N là người trực tiếp đánh gây thương tích cho bị hại từ khi sự việc bắt đầu cho đến khi kết thúc do đó bị cáo giữ vai trò cao nhất trong vụ án.
Các bị cáo Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A cùng tham gia đuổi đánh gây thương tích cho bị hại anh Đào Văn  nên giữ vai trò ngang nhau trong vụ án và thấp hơn bị cáo N.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A đều là người trên 18 tuổi, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên do bức xúc về việc chị Dương Thị Thu T (là vợ bị cáo N) bị anh Đào Văn  trêu ghẹo nên đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội rất nghiêm trọng. Bởi vậy, cần áp dụng mức hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích chính của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm mục đích giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho họ, ngăn ngừa tội phạm mới, bên cạnh đó các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Dương Văn T4 và Lê Nhật A có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ít nhất là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, đồng thời các bị cáo N, T2, T4, Nhật A là người có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương không có tiền án, tiền sự, các bị cáo N, T2, T4, Nhật A lần đầu phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ bực tức cá nhân chỉ mang tính bột phát. Mặt khác sau khi sự việc xảy ra các bị cáo cùng gia đình có ý thức nhanh chóng bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo N, T2, T4, Nhật A được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Xét thấy, quan điểm giải quyết vụ án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của bị hại thì thấy:
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A đã bồi thường cho anh Đào Văn  số tiền là 200.000.000đ. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại Âu tiếp tục yêu các bị cáo phải bồi thường thêm cho anh  số tiền là 100.000.000đ.
Đối với vấn đề này, căn cứ vào các tài liệu người bị hại cung cấp như hồ sơ bệnh án, các chi phí điều trị, công việc thực tế của người bị hại thì thấy yêu cầu này của anh  là chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành cũng như thiệt hại xảy ra trên thực tế. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 100.000.000 của bị hại Â, bởi lẽ:
- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa (1): 66.011.000đ, trong đó gồm các khoản:
- + Tiền viện phí: 5.405.133đ + 3.160.000₫ + 2.001.963₫ (làm tròn 2.002.000đồng) + 2.757.000đ = 13.322.133₫
- + Tiền thuê xe chở đi cấp cứu/2 lượt: 2.000.000₫
- + Tiền thuốc men có hóa đơn kèm theo: 35.429.000₫ + 15.258.000₫ = 50.687.000₫
- Ngày công lao động bị mất (2): 600.000đ * 22 ngày = 13.200.000₫
- Khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần (3): 45 tháng * 2.340.000₫ = 105.300.000₫
- Ngày công của người chăm sóc (4): 22 ngày * 400.000đ = 8.800.000₫
* Tổng các khoản bồi thường là: (1) + (2) + (3) + (4) = 193,311,133 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu ba trăm mười một đồng một trăm ba mươi ba đồng).
Mặc dù số tiền qua tính toán thiệt hại thực tế thấp hơn số tiền các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A đã bồi thường cho anh Â, tuy nhiên tại phiên tòa các bị cáo N, T2, D1, T4 và Nhật A không có ý kiến gì và tự nguyện bồi thường tổng số tiền là 200.000.000₫ cho anh Â. Xét việc tự nguyện bồi thường số tiền nêu trên là không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của các bị cáo.
[7]. Về biện pháp tư pháp:
- Đối với 11 (mười một) ghế có hình dạng tương tự nhau, ghế gấp được làm bằng khung kim loại, phần mặt ghế và lưng ghế làm bằng vải màu xanh rêu, hình dạng ghế khi gập có chiều dài 70cm, hình dạng ghế khi mở chiều cao là 70cm, mặt ghế có kích thước(36x36) cm, tâm cao cách đất 32cm. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Hà Tiến N2, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh N2 quản lý, sử dụng là phù hợp
- Đối với 01 (một) chiếc giày trái và 01 (một) chiếc giày phải, hai chiếc giày có màu nâu, kích cỡ số 42. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Đào Văn Â, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh  quản lý, sử dụng là phù hợp
- Đối với 02 (hai) đoạn video trong đĩa CD do anh Nguyễn Đình T11 (sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố D, phường B, thành phố P) và anh Nguyễn Trung H3 (sinh năm 1996, trú tại xóm C, xã M, thành phố P) giao nộp niêm phong trong phong bì giấy màu trắng kí hiệu C được chuyển theo hồ sơ vụ án là vật chứng có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tiếp tục lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
[8]. Về chi phí tố tụng và quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị hại Đào Văn Â
Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và được quyền kháng cáo bản án theo quy định
[9]. Các vấn đề khác trong vụ án: Trong vụ án này, Nguyễn Văn T7 không có hành vi không có hành đánh gây thương tích cho anh A mà có hành vi can ngăn các đối tượng gây thương tích cho anh Â. Do vậy T7 không phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm trong vụ án nên cơ quan điều tra không xử lý với T7 là phù hợp
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D1 05 (Năm) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Buộc Nguyễn Văn D1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (Sáu) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 07/9/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 21/8/2023 đến ngày 03/11/2023.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 21/8/2023
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Dương Văn T4 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 02/01/2024 đến ngày 02/02/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Nhật A 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giam trước đó từ ngày 02/01/2024 đến ngày 18/3/2024.
- Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Biện pháp ngăn chặn:
- Căn cứ Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Xuân N, Lê Nhật A, Dương Văn T4 trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T2 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án
- Hình phạt chính:
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 274, Điều 275, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Dương Văn T4, Lê Nhật A và Nguyễn Văn D1 với bị hại Đào Văn  số tiền là 200.000.000đ.
Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của Đào Văn  buộc các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Dương Văn T4, Lê Nhật A và Nguyễn Văn D1 phải tiếp tục bồi thường 100.000.000đ do không có căn cứ.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 02 (hai) đoạn video trong đĩa CD do anh Nguyễn Đình T11 (sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố D, phường B, thành phố P) và anh Nguyễn Trung H3 (sinh năm 1996, trú tại xóm C, xã M, thành phố P) giao nộp niêm phong trong phong bì giấy màu trắng kí hiệu C được chuyển theo hồ sơ vụ án
- Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị hại anh Đào Văn Â.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Các bị cáo Nguyễn Xuân N, Trần Văn T2, Nguyễn Văn D1, Dương Văn T4 và Lê Nhật A có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Đào Văn Â, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân N cùng đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
