Hệ thống pháp luật

168 TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HS-ST
Ngày 23 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Nhi.

Bà Trương Ánh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Đồng – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Thanh H, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1989, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); vợ, con: Chưa có;

Tiền án: 01 lần, tại Bản án hình sự số 181/2022/HSST ngày 14/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn 10 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/12/2023, Án phí hình sự sơ thẩm chấp hành xong ngày 27/3/2023;

Tiền sự: 01 lần, ngày 07/07/2022, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 20 tháng, Đã chấp hành xong.

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự số 83/2015/HSST ngày 07/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên phạt Dương Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn 06 tháng tù. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 01/8/2015. Phần án phí hình sự sơ thẩm chưa chấp hành;

Tại Bản án hình sự số 06/2016/HSST ngày 13/01/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 26/7/2016, phần án phí hình sự sơ thẩm đã chấp hành xong ngày 22/9/2017;

Tại Bản án hình sự số 18/2018/HSST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 18/4/2018, phần án phí hình sự sơ thẩm đã chấp hành xong ngày 01/02/2022.

Tại Quyết định số 52/2024/QĐ-TA ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau, bị cáo Dương Thanh H đang chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau. Có mặt.

2. Họ và tên: Lâm Văn X, sinh ngày 07/5/1988, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở hiện nay: Khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn M và bà Nguyễn Thị N (còn sống); vợ: Danh Thị Ái T1 (đã ly hôn), con: 02 người;

Tiền án: 02 lần, tại Bản án hình sự số 70/2021/HS-ST ngày 27/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt Lâm Văn X về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn 09 tháng tù. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 15/11/2021. Phần án phí hình sự sơ thẩm chưa chấp hành;

Tại Bản án hình sự số 181/2022/HSST ngày 14/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau tuyên phạt Dương Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn 10 tháng tù. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 10/12/2023, tại Trại giam K, tỉnh Kiên Giang. Phần án phí hình sự sơ thẩm chấp hành ngày 27/3/2023;

Tiền sự: 01 lần, tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 62/2019/QĐ-TA ngày 04/3/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đối với Lâm Văn X, thời hạn 18 tháng. Đã chấp hành xong ngày 07/8/2020.

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự số 243/2014/HS-ST ngày 18/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn 02 năm tù. Chấp hành hình phạt tù xong ngày 31/01/2016. Phần án phí hình sự sơ thẩm chấp hành xong;

Tại Bản án hình sự số 03/2018/HS-PT ngày 04/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh cà Mau xử phạt Lâm Văn X về tội “Trộm cắp tài sản, thời hạn 01 năm tù (giữ nguyên bản án sơ thẩm số 42/2017/HSST của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/10/2018, đã chấp hành xong án phí hình sự phúc thẩm.

Tại Quyết định số 480/QĐ-UBND ngày 09/3/2012 về việc đưa vào cơ sở chữa bệnh của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố C đối với Lâm Văn X, thời hạn 24 tháng, tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh C;

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 63/QĐ-TA ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đối với Lâm Văn X, thời hạn 24 tháng. Bị cáo Lâm Văn X đang chấp hành quyết định tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Lam T2, sinh năm 1998. Địa chỉ nơi cư trú: Ấp X, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lâm Văn M, sinh năm 1965. Địa chỉ nơi cư trú: Khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Duy Anh V, sinh năm 1990. Địa chỉ nơi cư trú: Khóm D, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 06 giờ 20 ngày 21/4/2024, Lâm Văn X điều khiển mô tô biển số 94D1-063.43 chở Dương Thanh H đi uống cà phê, khi đi đến khu vực cây xăng số B1 thuộc ấp B, xã L, thành phố C, Xuân rẽ vào đổ xăng. Trong lúc chờ đổ xăng, H nhìn thấy trên bàn phía sau khu vực trụ bơm xăng có 01 điện thoại di động Apple hiệu IPhone 14 promax, màu đen của ông Nguyễn Lam T2, H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, H đi vào vị trí bàn để điện thoại, thấy không có ai nên H dùng tay lấy trộm điện thoại cất giấu vào trong túi quần và đi ra leo lên xe nói với X “khỏi đổ xăng, thôi đi” thì Xuân leo lên xe điều khiển đi về hướng cầu G. Khi đi đến khu vực gần cây xăng H2 tại địa chỉ: Số A, khóm D, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau, H nói với X “mới lấy được điện thoại, kiếm chỗ bán” thì X đồng ý. Sau đó, X chở H đến tiệm Đ thuộc khóm D, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau gặp ông Nguyễn Duy Anh V, bán điện thoại vừa trộm trên được 2.500.000 đồng. Sau khi bán điện thoại, X chở H đến khu vực gần cầu G thuộc Khóm B, Phường H, thành phố C mua ma túy của 01 người đàn ông (không rõ nhân thân) hết 400.000 đồng và cả 02 cùng về nhà của H sử dụng chung. Sau khi sử dụng ma túy, H chia cho X 1.000.000 đồng từ số tiện bán điện thoại vừa trộm được để tiêu xài cá nhân.

Tang vật thu giữ chờ xử lý:

  • 01 xe moto BKS 94D1-063.43, loại xe Yamaha, hiệu Sirius (đã qua sử dụng), qua xác minh xe moto trên ông Lâm Văn M làm chủ sở hữu.
  • 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu trắng sọc kẻ caro màu đen; 02 quần dài jean màu xanh; 01 áo thun có bâu ngắn tay màu vàng; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu vàng, sọc ô vuông màu tím nhạt; 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu xám; 01 đôi dép xốp có nền trên màu trắng, nền dưới màu xanh dương.

Tại Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố C, kết luận: 01 điện thoại di động Apple hiệu IPhone 14 promax, màu đen, dung lượng 256GB, số IMEI: 351446982912511 (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 21/4/2024 có giá trị là 17.000.000 đồng.

Quá trình điều tra Dương Thanh H và Lâm Văn X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đối với ông Nguyễn Duy A V không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên đã mua điện thoại với giá 2.500.000 đồng, ông V không yêu cầu các bị cáo trả lại nên không đề cập giải quyết.

Đối với ông Lâm Văn M: Xác định xe mô tô biển số 94D1-063.43 là do ông mua để làm phương tiện đi lại, chưa sang tên, việc bị cáo Hoàng sử D xe để đi trộm tài sản, ông không biết nên bà xin được nhận lại xe nêu trên.

Tại Cáo trạng số 163/CT-VKS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Dương Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lâm Văn X về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Dương Thanh H, Lâm Văn X theo Cáo trạng số: 163/CT-VKS ngày 04/9/2024 và đề nghị:

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lâm Văn X phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • - Về hình phạt:
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Thanh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Văn X từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu trắng sọc kẻ caro màu đen; 02 quần dài jean màu xanh; 01 áo thun có bâu ngắn tay màu vàng; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu vàng, sọc ô vuông màu tím nhạt; 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu xám và 01 đôi dép xốp có nền trên màu trắng, nền dưới màu xanh dương; Trả xe mô tô biển số 94D1-063.43 cho ông M;
  • Buộc bị cáo H và bị cáo X mỗi bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội 1.250.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố và thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Các bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

[2] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không oan, không sai. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 06 giờ 20 phút ngày 21/4/2024, bị cáo Dương Thanh H lợi dụng sở hở của bị hại nên đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Apple hiệu IPhone 14 promax, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 17.000.000 đồng. Bị cáo Lâm Văn X không hứa hẹn trước mà biết rõ tài sản do bị cáo H trộm cắp mà có nhưng cùng với bị cáo H đem bán điện thoại di động Apple hiệu IPhone 14 promax cho ông Nguyễn Duy A V với giá 2.500.000 đồng lấy tiền sử dụng ma túy và chia nhau tiêu xài cá nhân.

[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo H đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Riêng hành vi của bị cáo X đã xâm phạm vào trật tự an toàn công cộng, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra xử lý người phạm tội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo H nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; bị cáo X biết rõ bán tài sản do phạm tội mà có là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền sử dụng ma túy và chi xài cho cá nhân mà các bị cáo bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo còn gây mất an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân trên địa bàn thành phố C.

Từ những căn cứ, phân tích và nhận định nêu trên, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Dương Thanh H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Lâm Văn X phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với từng bị cáo:

Các bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự và đang chấp hành Quyết định áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cà Mau.

Về tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này đã cấu thành tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo có nhận thân xấu, có tiền án, tiền sự và đã bị tòa án xét xử nhiều lần với nhiều tội dạnh, mức án khác nhau, sau khi các bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương, lẽ ra các bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, rèn luyện phấn đấu trở thành người có ít cho xã hội nhưng các bị cáo lại nghiện ma túy, tỏ thái độ bất chấp các quy định của pháp luật và lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho nên lần phạm tội này của các bị cáo cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi của từng bị cáo đã gây ra, nên áp dụng hình phạt tù để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để răn đe giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, nhằm phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với điện thoại di động hiệu IPhone 14 promax, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho bị hại nên không đặt ra xem xét.
  • Đối với 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu trắng sọc kẻ caro màu đen; 02 quần dài jean màu xanh; 01 áo thun có bâu ngắn tay màu vàng; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu vàng, sọc ô vuông màu tím nhạt; 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu xám và 01 đôi dép xốp có nền trên màu trắng, nền dưới màu xanh dương là vật chứng của vụ án hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
  • Đối với xe mô tô biển số 94D1-063.43 là tài sản của ông M, các bị cáo sử dụng đi thực hiện tội phạm ông M không biết nên trả lại cho ông M là phù hợp.
  • Buộc mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 1.250.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung quỹ nhà nước là phù hợp.

[6] Ông Nguyễn Duy Anh V không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên mua lại điện thoại với giá 2.500.000 đồng, nên không đề cập xử lý trong vụ án là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo chưa xác định được nhân thân nên giao cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ có căn cứ xử lý sau là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Lâm Văn X phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
  2. Về hình phạt:
    • Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Dương Thanh H 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
    • Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lâm Văn X 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu đen; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu trắng sọc kẻ caro màu đen; 02 quần dài jean màu xanh; 01 áo thun có bâu ngắn tay màu vàng; 01 áo sơ mi dài tay có nền màu vàng, sọc ô vuông màu tím nhạt; 01 mũ bảo hiểm loại mũ lưỡi trai màu xám và 01 đôi dép xốp có nền trên màu trắng, nền dưới màu xanh dương.
    • Trả xe mô tô biển số 94D1-063.43 lại cho ông Lâm Văn M.
      (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau).
    • Buộc bị cáo Dương Thanh H và bị cáo Lâm Văn X mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 1.250.000 đồng thu lợi bất chính từ việc phạm tội đễ sung quỹ nhà nước.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Dương Thanh H và bị cáo Lâm Văn X mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thanh H1, bị cáo Lâm Văn X và ông Lâm Văn M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Lam T2 và ông Nguyễn Duy Anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 168/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, Tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị xử phạt tù có thời hạn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger