Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11/9/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ký Bé Lài

Bà Phạm Lý Ba

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 202/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 315a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Ngọc G, sinh năm 1994 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng K, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Ngọc G trình bày:

Về hôn nhân: Vào ngày 07 tháng 05 năm 2013 chị và anh Nguyễn Trọng K có tổ chức lễ thành hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tinh C, theo số 63/2013. Trong quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc, nhưng về sau giữa hai người thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, chị G và anh K không còn tìm được tiếng nói chung, anh K không quan tâm chăm lo cho gia đình, nên đã sống ly thân từ cuối năm 2015 dến nay. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nữa nên chị G yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.

Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 nguời con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T, sinh ngày 23/4/2014 (Nữ). Hiện người con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T do anh Nguyễn Trọng K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị G yêu cầu tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T cho anh Nguyễn Trọng K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Chị cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Trọng K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh K vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của chị G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Ngọc G cho chị Bùi Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K. Giao con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T cho anh K nuôi dưỡng. Chị G tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi Nguyễn Bùi Ngọc T đủ 18 tuổi và có khả tự lao động để nuôi sống bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Trọng K là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án chị Bùi Ngọc G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Trọng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K.

[3] Về hôn nhân: Chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K sống chung với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 07/5/2013 (Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2013). Do đó, hôn nhân của chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K là hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Ngọc G xác định, sau thời gian sống chung, chị và anh K bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K. Đối với anh Nguyễn Trọng K, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng anh K vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của chị G.

Hội đồng xét xử nhận thấy, chị G đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với anh K một thời gian dài nhưng anh K không có ý kiến gì, chị G cho rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà và anh K thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh K không quan tâm đến vợ con. Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu chị Bùi Ngọc G được ly hôn với anh Nguyễn Trọng K.

[4] Về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung chị G và anh K có 01 người con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T, sinh ngày 23/4/2014 (Nữ). Chị G yêu cầu sau khi ly hôn giao con chung cho anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Trọng K không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị G giao người con chung cho anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Ngọc G giao con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2014 (Nữ) cho anh Nguyễn Trọng K nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn yêu cầu khởi kiện cũng như qua quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Ngọc G tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.000.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án anh K không có ý kiến gì đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Ngọc G về cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi Nguyễn Bùi Ngọc T đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình và án phí dân sự về cấp dưỡng nuôi con chị Bùi Ngọc G phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Ngọc G với anh Nguyễn Trọng K.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Bùi Ngọc T, sinh ngày 23 tháng 4 năm 2014 (giới tính Nữ) cho anh Nguyễn Trọng K chăm sóc, nuôi dưỡng.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Ngọc G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) cho đến khi Nguyễn Bùi Ngọc T đủ 18 tuổi và có khả tự lao động để nuôi sống bản thân.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí:
    • - Án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Bùi Ngọc G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 20 tháng 6 năm 2024, chị Bùi Ngọc G đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003617 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Bùi Ngọc G phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), chị G có nghĩa vụ nộp tại Chi cục thi hành án huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Chị Bùi Ngọc G1 và anh Nguyễn Trọng K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn B
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 168/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, chia tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger