Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 168/2024/KDTM-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Nguyễn Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Phương Dung
  2. Bà Đỗ Thị Kim Nhàn

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Minh Phước - Thư ký Toà án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Minh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân Quận 1, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 194/2023/TLST-KDTM ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9896/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10982/2024/QĐST-KDTM ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D

Địa chỉ: số B T, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  • - Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
  • - Hoặc ông Quách Vũ Ngọc H, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: C Tòa nhà N, KĐT S, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội.
  • (Theo Giấy ủy quyền số 03/2024/GUQ-HK ngày 12/01/2024).

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1

Địa chỉ: Tầng A, D, số C L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1978

Địa chỉ: G Chung cư C N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Xuân T và ông Quách Vũ Ngọc H có mặt tại phiên tòa. Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, đơn bổ sung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn D có ông Nguyễn Xuân T và ông Quách Vũ Ngọc H là người đại diện hợp pháp trình bày:

Ngày 05/5/2021, Công ty Trách nhiệm hữu hạn D (sau đây gọi tắt là Công ty D) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 (sau đây gọi tắt là Công ty D1) ký kết Hợp đồng lưu trú cách ly với nội dung: Công ty D cung cấp dịch vụ đón và phục vụ cách ly, xét nghiệm covid-19 cho Phi công và Tổ bay của V tại Khách sạn H3 (tên kinh doanh của Công ty D). Dịch vụ lưu trú gồm hai hạng mục: Phòng ở cách ly dành cho Tổ bay và C. Chính sách thanh toán: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày khách trả phòng và Công ty D1 nhận được bộ hồ sơ thanh toán gồm hóa đơn VAT, bảng tổng hợp chi phí phát sinh trong tháng và bảng xác nhận lưu trú của tổ bay.

Ngày 15/6/2021 và ngày 01/7/2022, Công ty D và Công ty D1 đã ký kết 02 Phụ lục để điều chỉnh điều khoản chi tiết về dịch vụ. Các nội dung khác giữ nguyên theo Hợp đồng lưu trú.

Thực hiện hợp đồng, Công ty D đã cung cấp dịch vụ đón và phục vụ cách ly, xét nghiệm covid-19 cho Phi công và Tổ bay của V. Sau mỗi đợt cung cấp dịch vụ, Công ty D và Công ty D1 đã thống nhất phí dịch vụ của từng đợt và Công ty D tiến hành xuất các hóa đơn giá trị gia tăng với số tiền phí dịch vụ là 16.625.189.375 đồng. Công ty D1 đã thanh toán một phần công nợ với số tiền là 14.698.575.000 đồng.

Kể từ ngày 31/3/2022 đến nay, Công ty D1 không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho Công ty D nữa. Hiện nay, Công ty D1 còn nợ số tiền nợ gốc là 1.926.614.375 đồng.

Ngày 10/6/2022, Công ty D1 đã gửi công văn số 10/0522/PĐH cho Công ty D, theo đó đề nghị gia hạn lộ trình thanh toán như sau:

  • - Đợt 1: Ngày 15/8/2022, thanh toán 50% tổng công nợ, tương đương 963.300.000 đồng.
  • - Đợt 2: Ngày 25/9/2022, thanh toán 100% công nợ, tương đương 963.614.375 đồng.

Cũng tại công văn này, Công ty D1 cam kết thanh toán 100% các khoản nợ trước ngày 25/9/2022.

Tuy nhiên đến nay, Công ty D1 vẫn không thanh toán công nợ quá hạn cho Công ty D dù Công ty D đã nhiều lần nhắc nhở. Do đó Công ty D yêu cầu Công ty D1 có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất nợ quá

hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tính đến ngày xét xử là 15%/năm như sau:

  • - Số tiền nợ gốc 963.300.000 đồng: tiền lãi từ ngày 16/8/2022 đến ngày 26/7/2024 là 281.072.466 đồng.
  • - Số tiền nợ gốc 963.614.375 đồng: tiền lãi từ ngày 26/9/2022 đến ngày 26/7/2024 là 264.927.952 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi chậm trả là 546.000.418 đồng.

Nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn D yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D toàn bộ số nợ gốc còn thiếu theo Hợp đồng Lưu trú cách ly ngày 05/5/2021 là 1.926.614.375 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 546.000.418, tổng cộng là 2.472.614.793 đồng.

Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 và người đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và thực hiện tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, thời gian mở phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử và nguyên tắc xét xử. Đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng lưu trú cách ly ngày 05/5/2021 và các phụ lục hợp đồng. Nội dung hợp đồng thể hiện nguyên đơn cung cấp dịch vụ đón và phục vụ cách ly, xét nghiệm covid-19 cho Phi công và Tổ bay của V tại Khách sạn H3. Nguyên đơn đã thực hiện việc cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, xuất hóa đơn GTGT với tổng phí dịch vụ là 16.625.189.375 đồng. Bị đơn đã thanh toán được một phần công nợ với số tiền là 14.698.575.000 đồng. Từ ngày 31/3/2022 đến nay, Công ty D1 không thanh toán số tiền còn nợ là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ và tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử là có cơ sở chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng dịch vụ, phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại Quận A. Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D (sau đây gọi tắt là Công ty D) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 (sau đây gọi tắt là Công ty D1) ký kết Hợp đồng lưu trú cách ly ngày 05/5/2021 với nội dung: Công ty D cung cấp dịch vụ đón và phục vụ cách ly, xét nghiệm covid-19 cho Phi công và Tổ bay của V tại Khách sạn H3 (tên kinh doanh của Công ty D). Dịch vụ lưu trú gồm hai hạng mục: Phòng ở cách ly dành cho Tổ bay và C. Chính sách thanh toán: Trong vòng 15 ngày kể từ ngày khách trả phòng và Công ty D1 nhận được bộ hồ sơ thanh toán gồm hóa đơn VAT, bảng tổng hợp chi phí phát sinh trong tháng và bảng xác nhận lưu trú của tổ bay.

Ngày 15/6/2021 và ngày 01/7/2022, Công ty D và Công ty D1 đã ký kết 02 Phụ lục để điều chỉnh điều khoản chi tiết về dịch vụ. Các nội dung khác giữ nguyên theo Hợp đồng lưu trú.

[4] Hợp đồng được hai bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng nên hợp đồng có giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa hai bên.

[5] Thực hiện hợp đồng, Công ty D đã cung cấp dịch vụ đón và phục vụ cách ly, xét nghiệm covid-19 cho Phi công và Tổ bay của V tại Khách sạn H3 theo thỏa thuận trong hợp đồng với Công ty D1. Công ty D đã xuất đầy đủ các hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty D1 với tổng phí dịch vụ là 16.625.189.375 đồng. Công ty D1 đã thanh toán cho Công ty D một phần công nợ là 14.698.575.000 đồng, còn nợ số tiền là 1.926.614.375 đồng.

[6] Công ty D1 đã gửi cho Công ty D công văn số 10/0522/PĐH ngày 10/6/2022, theo đó đề nghị gia hạn thanh toán đối với số tiền còn lại là 1.926.614.375 đồng như sau: Đợt 1: Ngày 15/8/2022, thanh toán 50% tổng công nợ, tương đương 963.300.000 đồng. Đợt 2: Ngày 25/9/2022, thanh toán 100%

công nợ, tương đương 963.614.375 đồng.

Tuy nhiên đến nay, Công ty D1 vẫn không thanh toán công nợ quá hạn cho Công ty D là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký.

[7] Như vậy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ là 1.926.614.375 đồng là phù hợp với thỏa thuận tại tiểu mục 3 Mục I của Hợp đồng hai bên đã giao kết và quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật Thương mại năm 2005.

[8] Về yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó có trách nhiệm thanh toán tiền lãi chậm trả theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005.

Về mức lãi suất chậm trả:

Căn cứ mức lãi suất cho vay trung hạn phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng N – Chi nhánh Thành phố H là 7,5%/năm; Lãi suất cho vay trung hạn sản xuất kinh doanh thông thường của Ngân hàng TMCP C1 – Chi nhánh Thành phố H là 12,5%/năm; Lãi suất cho vay trung hạn thông thường của Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh Thành phố H là 10%/năm. Như vậy, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường bằng 150% lãi suất trong hạn được xác định là 15%/năm.

Về thời gian tính lãi chậm trả:

Công ty D1 đã gửi công văn số 10/0522/PĐH cho Công ty D ngày 10/6/2022, theo đó đề nghị lộ trình thanh toán số tiền gốc còn nợ như sau: Đợt 1: Ngày 15/8/2022, thanh toán 50% tổng công nợ, tương đương 963.300.000 đồng. Đợt 2: Ngày 25/9/2022, thanh toán 100% công nợ, tương đương 963.614.375 đồng.

Tuy nhiên Công ty D1 không thực hiện thanh toán theo lộ trình đã cam kết. Do đó, tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử như sau:

  • - Đối với số tiền nợ gốc 963.300.000 đồng: Tiền lãi tính từ ngày 16/8/2022 đến ngày 26/7/2024 là: 963.300.000 đồng x 15%/năm x 710 ngày = 281.072.466 đồng.
  • - Đối với số tiền nợ gốc 963.614.375 đồng: Tiền lãi từ ngày 26/9/2022 đến ngày 26/7/2024 là: 963.614.375 đồng x 15%/năm x 669 ngày = 264.927.952 đồng.

Tổng cộng số tiền lãi chậm trả là 546.000.418 đồng.

[9] Tổng cộng, số tiền gốc và lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 1.926.614.375 đồng + 546.000.418 đồng = 2.472.614.793 đồng.

[10] Về phương thức thanh toán: Công ty D1 có trách nhiệm thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[11] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30; Điểm b khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 74, khoản 1 Điều 85, Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;
  • - Luật Thi hành án dân sự;
  • - Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D số tiền còn nợ theo Hợp đồng lưu trú cách ly ngày 05/5/2021 với số tiền nợ gốc là 1.926.614.375 đồng và tiền lãi chậm trả tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 546.000.418 đồng, tổng cộng là 2.472.614.793 đồng.

Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Công ty Trách nhiệm hữu hạn D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005.

2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 81.452.296 đồng.

H2 lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.899.216 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0044737 ngày 17/10/2023 và số tiền 8.810.296 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0045459 ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Nguyễn Mai Phương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/KDTM-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 168/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger