|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/DS-ST Ngày: 18/7/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Duyên
- Các hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Trần Thị Kim Đính;
- 2/ Bà Mai Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Bà Lê Hà Bảo Trân – Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 557/2023/TLST-DS ngày 19/12/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 876/2024/QĐXXST-DS ngày 05/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1052/2024/QĐST-DS ngày 26/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Số B Đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trọng N – sinh năm 1994.
Địa chỉ: A Đường L, Ấp C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
Bị đơn: Ông Bùi Đăng T - sinh năm 1969
Địa chỉ: A Đường G, Tổ A, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bùi Thị Cúc H – sinh năm 1976
Địa chỉ: A P, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lê Thị L – sinh năm 1958
- - Bà Đoàn Thị Ánh T1 – sinh năm 1978
- - Ông Đoàn Ngọc L1 – sinh năm 1953
- - Ông Huỳnh Văn T2 – sinh năm 1962
- - Ông Đoàn Ngọc L2 – sinh năm 1980.
- - Người đại diện hợp pháp của trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3 – sinh năm 2023 (bà Đoàn Thị Ánh T1 – ông Huỳnh Văn T2)
Cùng địa chỉ: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Ông L1, bà T1 có mặt; bà L, ông T2, ông L2 xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 4 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Trọng N trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và ông Bùi Đăng T đã ký 04 hợp đồng tín dụng bao gồm:
1/ Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020; Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202024927390 ngày 22/04/2021. Theo đó ông T đã vay số tiền: 4.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số LD2005800297 ngày 27/02/2020.
Thời hạn vay: 300 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 27/02/2045.
Mục đích vay vốn: Chuyển nhượng Bất động sản.
Trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 10/4/2020.
Lãi suất cho vay: 12,5%/năm cố định trong 06 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 07 lãi suất được áp dụng bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ + biên độ 5,5%/năm, sau đó lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.
Biện pháp bảo đảm tiền vay: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 001338 ngày 07/5/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020.
Thực hiện hợp đồng, ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền 1.430.672.881 đồng bao gồm nợ gốc và nợ lãi. Kể từ ngày 10/8/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 17/7/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 4.726.254.219 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.613.314.000 đồng; Nợ lãi: 1.112.940.219 đồng.
2/ Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020, ông T đã vay số tiền: 900.000.000 đồng, theo Giấy nhận nợ số LD2016200427 ngày 10/06/2020.
Thời hạn vay: 36 tháng, thời hạn trả nợ là ngày 10/6/2023.
Mục đích vay vốn: Vay tiêu dùng.
Trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 10/7/2020.
Lãi suất cho vay: 10,5%/năm cố định trong 06 tháng đầu tiên. Từ tháng thứ 07 lãi suất được áp dụng bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ + biên độ 3,5%/năm, sau đó lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần.
Biện pháp bảo đảm tiền vay: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/001338 ngày 10/6/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020.
Thực hiện hợp đồng, ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền 784.942.968 đồng bao gồm nợ gốc và nợ lãi. Kể từ ngày 10/8/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 17/7/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 332.825.893 đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi: 82.825.893 đồng.
3/ Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG - 60023/2019 ngày 09/09/2019, ông T đã vay số tiền: 160.000.000 đồng.
Thời hạn vay: 60 tháng.
Mục đích vay: Vay tiêu dùng từ lương
Trả nợ gốc và lãi vào ngày 10 hàng tháng.
Lãi suất: Lãi suất để tính số vốn và lãi định kỳ mà Bên được cấp tín dụng phải trả cho Ngân hàng là 16%/năm, tương đương với lãi suất thực tế của khoản vay được ấn định theo quy định tại Hợp đồng. Lãi suất này đã được các bên thỏa thuận và phù hợp với quy định của pháp luật. Số tiền trả lãi vay mỗi kỳ là tổng số tiền lãi của các lần nhận nợ theo quy định tại Hợp đồng và được tính theo số dư nợ thực tế vào cuối ngày, số ngày thực tế mỗi kỳ nhân với lãi suất cho vay. Thời hạn tính lãi được tính theo số dư nợ thực tế vào cuối ngày, số ngày thực tế mỗi kỳ nhân với lãi suất cho vay. Thời hạn tính lãi được tính từ ngày giải ngân đến hết ngày liền kề ngày trước ngày đến hạn.
Biện pháp bảo đảm tiền vay: Không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay.
Thực hiện hợp đồng, ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền 144.510.446 đồng bao gồm nợ gốc và nợ lãi. Kể từ tháng 10/8/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Tính đến ngày 17/7/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 93.544.202 đồng, trong đó: Nợ gốc: 66.562.000 đồng; Nợ lãi: 26.982.202 đồng.
4/ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020 bao gồm bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ quan hệ tín dụng của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông T thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 với hạn mức sử dụng là 300.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 699.389.085 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã trả cho Ngân hàng số tiền (gồm gốc và lãi) là 523.591.473 đồng.
Kể từ ngày 10/8/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nên đến ngày 04/9/2022, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn nợ của ông T là 314.755.259 đồng sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 17/7/2024, ông T còn nợ Ngân hàng số tiền là: 526.861.159 đồng, trong đó: Nợ gốc: 314.755.259 đồng; Nợ lãi: 212.105.900 đồng.
Nay, Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu ông Bùi Đăng T phải trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 5.679.485.473 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 cho đến ngày trả hết số nợ theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên.
Trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ gốc, nợ lãi thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp GCN 02298b/2003 do Ủy ban nhân dân Quận G cấp ngày 21/7/2003, cập nhật sang tên ông Bùi Đăng T ngày 16/3/2020 để thu hồi nợ.
Nếu số tiền phát mại tài sản đảm bảo không đủ trả hết khoản nợ của ông T tại Ngân hàng, ông T phải có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
Ngân hàng yêu cầu ông T trả cho Ngân hàng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng đã tạm ứng là 6.000.000 đồng.
Ông Bùi Đăng T là bị đơn do bà Bùi Thị Cúc H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà H xác nhận, ông Bùi Đăng T có ký 04 hợp đồng tín dụng để vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần S, bao gồm các hợp đồng:
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020, ông T vay số tiền 4.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số LD2005800297 ngày 27/02/2020.
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020, ông T đã vay số tiền: 900.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số LD2016200427 ngày 10/06/2020.
- - Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG - 60023/2019 ngày 09/09/2019, ông T đã vay số tiền: 160.000.000 đồng.
- - Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 với hạn mức sử dụng là 300.000.000 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020.
Về thời hạn vay, mục đích vay, lãi suất vay cũng như ngày trả nợ gốc và lãi đúng trong các Hợp đồng tín dụng đúng với lời khai của đại diện nguyên đơn.
Để đảm bảo khoản vay của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020 và của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020, ông T đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng đối với Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG - 60023/2019 ngày 09/09/2019 và Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020, ông T không thế chấp tài sản.
Ông T đã nhận đủ tiền vay và trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T cũng đã trả được một phần nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng. Tuy nhiên, sau đó do công việc khó khăn nên ông T không thể tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
Nay, đối với yêu cầu trả nợ của Ngân hàng, ông T đồng ý trả toàn bộ số nợ của 04 hợp đồng tín dụng cho Ngân hàng tính đến ngày 17/7/2024 tổng cộng số tiền là 5.679.485.473 và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 18/7/2024. Tuy nhiên, ông T đề nghị được trả nợ theo phương án trả nợ gốc lãi theo từng Hợp đồng tín dụng đã ký hoặc Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian để ông T bán các tài sản khác để trả nợ cho ngân hàng.
Trường hợp, ông T không trả được toàn bộ số nợ còn lại của 02 hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản, ông T đồng ý để Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Ông T đồng ý chịu chi phí tố tụng và đồng ý trả lại cho Ngân hàng số tiền 6.000.000 đồng mà Ngân hàng đã nộp tạm ứng.
Ông Đoàn Ngọc L1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Đoàn Ngọc L1 và bà Lê Thị L là vợ chồng, hiện đang sinh sống tại địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 17 tháng 10 năm 2017, ông L1, bà L đã nhận chuyển nhượng từ bà Bùi Thị C Hương một phần nhà và đất có diện tích ngang 4,8m và dài 7,8m thuộc một phần thửa 220-8 tờ bản đồ số 6C, cấu trúc nhà một trệt, hai lầu tại địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá chuyển nhượng là 1.250.000.000 đồng. Hai bên có lập văn bản chuyển nhượng nhưng không có công chứng, chứng thực. Ông L1, bà L đã giao cho bà Bùi Thị C H số tiền 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng theo Vi bằng số: 1940/VB-TPL do Văn phòng T5 ký ngày 17 tháng 10 năm 2017. Tại thời điểm giao tiền, bà Bùi Thị Cúc H là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông Đoàn Ngọc L1 đề nghị ông Bùi Đăng T trả nợ cho Ngân hàng.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông L1, bà L với bà Bùi Thị Cúc H, ông L1 sẽ khởi kiện bà H trong một vụ án khác. Ông L1 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Bà Lê Thị L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bà Lê Thị L và ông Đoàn Ngọc L1 là vợ chồng và đang đang sinh sống tại địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 17 tháng 10 năm 2017, ông L1, bà L đã nhận chuyển nhượng từ bà Bùi Thị C Hương một phần nhà và đất có diện tích ngang 4,8m và dài 7,8m thuộc một phần thửa 220-8 tờ bản đồ số 6C, cấu trúc nhà một trệt, hai lầu tại địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá chuyển nhượng là 1.250.000.000 đồng. Hai bên có lập văn bản chuyển nhượng nhưng không có công chứng, chứng thực. Ông L1, bà L đã giao cho bà Bùi Thị C H số tiền 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng theo Vi bằng số: 1940/VB-TPL do Văn phòng T5 ký vào ngày 17 tháng 10 năm 2017. Tại thời điểm giao tiền thì bà Bùi Thị Cúc H là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì bà L đề nghị ông T và bà H trả nợ cho Ngân hàng để lấy giấy tờ nhà về làm thủ tục sang tên Giấy chứng nhận cho bà L và ông L1. Trường hợp không được đề nghị bà Bùi Thị C H trả tiền lại cho bà L và ông L1.
Bà Đoàn Thị Ánh T1, ông Huỳnh Văn T2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và là người đại diện hợp pháp của trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3 có đơn xin vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Bà Đoàn Thị Ánh T1 là con gái ruột của ông Đoàn Ngọc L1 và bà Lê Thị L. Ông Huỳnh Văn T2 là chồng của bà T1. Bà T1 và ông T2 có con chung là trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3. Hiện nay, bà T1, ông T2 cùng con gái đang sinh sống tại địa chỉ F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà T1, ông T2 cũng được biết vào năm 2017, ông L1 và bà L có nhận chuyển nhượng của bà Bùi Thị C H một phần nhà và đất có diện tích ngang 4,8m và dài 7,8m thuộc một phần thửa 220-8 tờ bản đồ số 6C. Cấu trúc nhà một trệt, hai lầu tại địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh với giá chuyển nhượng là 1.250.000.000 đồng.
Ông L1 đã giao cho bà Bùi Thị C H số tiền 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng. Tại thời điểm giao tiền, bà Bùi Thị Cúc H là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, bà T1 đề nghị ông Bùi Đăng T trả nợ cho ngân hàng.
Đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L1, bà L với bà Bùi Thị Cúc H, gia đình sẽ khởi kiện bà H trong một vụ án khác.
Bà T1, ông T2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án này.
Ông Đoàn Ngọc L2 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có lời khai có đơn xin vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán kể từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã ông Bùi Đăng T quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua phần tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết là nơi nguyên đơn có chi nhánh theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Các ông (bà): Lê Thị L, Huỳnh Văn T2, Đoàn Ngọc L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
[2.1] Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông T trả số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 5.679.485.473 đồng, trong đó: Nợ gốc: 4.244.631.259 đồng; Nợ lãi: 1.434.854.214 đồng và các khoản tiền lãi phát sinh tính từ ngày 18/07/2024 cho đến khi trả hết nợ. Phương thức trả: Trả làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét:
Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa Ngân hàng và ông T, các giấy nhận nợ, sự thừa nhận của đại diện Ngân hàng và đại diện của ông T có đủ cơ sở kết luận ông T có vay tiền của Ngân hàng thông qua 04 hợp đồng tín dụng, cụ thể:
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020, ông T vay số tiền 4.000.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số LD2005800297 ngày 27/02/2020.
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020, ông T đã vay số tiền: 900.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số LD2016200427 ngày 10/06/2020.
- - Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG - 60023/2019 ngày 09/09/2019, ông T đã vay số tiền: 160.000.000 đồng.
- - Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 với hạn mức sử dụng là 300.000.000 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020.
Các bên thừa nhận về thời hạn vay, lãi suất vay, mục đích vay, ngày trả nợ gốc và lãi hàng tháng đúng theo các Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ.
Ông T đã nhận đủ tiền vay theo các hợp đồng tín dụng và sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch. Trong quá trình vay, ông T đã trả được một phần nợ gốc và lãi theo từng hợp đồng tín dụng. Từ ngày 10/8/2022, ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước thời hạn, chấm dứt hợp đồng tín dụng nêu trên và yêu cầu ông T trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi phát sinh là có căn cứ. Theo đó, Ngân hàng yêu cầu ông T trả toàn bộ số nợ tính đến ngày 17/7/2024 là 5.679.485.473 đồng, trong đó:
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020, ông T còn nợ số tiền 4.726.254.219 đồng, trong đó: Nợ gốc: 3.613.314.000 đồng; Nợ lãi: 1.112.940.219 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020, ông T còn nợ số tiền 332.825.893 đồng, trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi: 82.825.893 đồng.
- - Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG - 60023/2019 ngày 09/09/2019, ông T còn nợ số tiền 93.544.202 đồng, trong đó: Nợ gốc: 66.562.000 đồng; Nợ lãi: 26.982.202 đồng.
- - Hợp đồng tín dụng là Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020, ông T còn nợ số tiền 526.861.159 đồng, trong đó: Nợ gốc: 314.755.259 đồng; Nợ lãi: 212.105.900 đồng.
Ngoài ra, ông T còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi ông T trả hết nợ.
Việc ông T không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng đã vi phạm các quy định trong thỏa thuận cho vay đã được ông T ký kết với Ngân hàng tại các Hợp đồng tín dụng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông T có trách nhiệm trả số tiền còn nợ của 04 hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 17/7/2024 tổng cộng là 5.679.485.473 đồng, trong đó: Nợ gốc: 4.244.631.259 đồng; Nợ lãi: 1.434.854.214 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 18/7/2024 cho đến khi ông T trả hết nợ theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký là hoàn toàn có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc bà H là người đại diện của ông T trình bày xin tiếp tục trả nợ gốc và lãi theo từng Hợp đồng tín dụng và đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian để ông T bán các tài sản khác để trả toàn bộ số nợ nhưng không không được đại diện Ngân hàng chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng dân sự là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, việc ông T không trả nợ đúng hạn là vi phạm thỏa thuận của hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng do đó việc Ngân hàng yêu cầu ông T phải trả toàn bộ số tiền còn nợ làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu trong trường hợp ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền gốc, tiền lãi Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản đã được hai bên ký để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét!
Để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020 ( ông T vay số tiền 4.000.000.000 đồng) và của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020 (ông T vay số tiền 900.000.000 đồng), ông T đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp GCN 02298b/2003 do Ủy ban nhân dân Quận G cấp ngày 21/7/2023, cập nhật sang tên ông Bùi Đăng T ngày 16/3/2020 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 001338 ngày 07/5/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/001338 ngày 10/6/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020.
Tài sản thế chấp nêu trên thuộc quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp của ông T, việc ông T cùng với Ngân hàng ký kết Hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ vay của ông T là hoàn toàn tự nguyện, các bên đã thực hiện đúng quy định về thủ tục đăng ký biện pháp bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định tại Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 nên có giá trị ràng buộc đối với các bên đã ký kết trong hợp đồng thế chấp.
Đối với khoản vay của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG -60023/2019 ngày 09/09/2019 và Hợp đồng tín dụng là Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020, ông T không có thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của Ngân hàng để thu hồi nợ nếu ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 001338 ngày 07/5/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/001338 ngày 10/6/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020.
[2.3] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/9/2023, tại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có gia đình ông Đoàn Ngọc L1 đang sinh sống bao gồm: ông Đoàn Ngọc L1, bà Lê Thị L, bà Đoàn Thị Ánh T1, ông Đoàn Ngọc L2, ông Huỳnh Văn T2 và trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3.
Hội đồng xét xử xét:
Trong quá trình giải quyết vụ án, các ông (bà) ông Đoàn Ngọc L1, bà Lê Thị L, bà Đoàn Thị Ánh T1, ông Đoàn Ngọc L2, ông Huỳnh Văn T2 và trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3 (bà T1 và ông T2 là người đại diện hợp pháp) có lời khai ông L1, bà L đã nhận chuyển nhượng từ bà Bùi Thị C Hương một phần nhà và đất có diện tích ngang 4,8m và dài 7,8m thuộc một phần thửa 220-8 tờ bản đồ số 6C. Hợp đồng các bên lập không được công chứng, chứng thực. Thời điểm bà H chuyển nhượng một phần nhà và đất cho ông L1, bà L, bà H là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong vụ án tranh chấp giữa Ngân hàng và ông T, các ông (bà): Đoàn Ngọc L1, Lê Thị L, Đoàn Thị Ánh T1, Đoàn Ngọc L2, Huỳnh Văn T2 và trẻ Huỳnh Ngọc Phương T3 với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có yêu cầu độc lập và cũng không tranh chấp với Ngân hàng và ông T. Riêng đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L1, bà L với bà Bùi Thị Cúc H, các ông, bà nêu trên xác nhận sẽ khởi kiện bà H trong một vụ án khác. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét giải quyết và dành quyền khởi kiện cho các ông, bà nêu trên trong một vụ án khác
[2.3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng đã Ngân hàng đã tạm ứng.
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận nên ông T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, Ngân hàng không phải chịu chi phí này. Vì vậy, ông T có trách nhiệm hoàn trả một lần cho Ngân hàng số tiền 6.000.000 đồng, ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 91, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 41, 295, 299, 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng 2010.
Căn cứ Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng và Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1/ Buộc ông Bùi Đăng T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 17/7/2024 là: 5.679.485.473 đồng (Năm tỷ sáu trăm bảy mươi chín triệu bốn trăm tám mươi lăm nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng), trong đó: Nợ gốc: 4.244.631.259 đồng; Nợ lãi: 1.434.854.214 đồng theo Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 01/202024927390 ngày 22/04/2021; Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020; Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số 09/2019/VTDTULUONG -60023/2019 ngày 09/09/2019; Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng Visa Platinum số 436438-5510 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 16/03/2020 và các giấy nhận nợ.
Phương thức trả: trả làm một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ông Bùi Đăng T có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 18/7/2024 theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi trả hết nợ.
Trong trường hợp ông Bùi Đăng T không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 27/02/2020 và Hợp đồng tín dụng số [...] ngày 10/06/2020, Ngân hàng thương mại cổ phần S được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tọa lạc tại thửa đất 220-8, tờ bản đồ số: 6C (SĐN); địa chỉ số: F Khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp GCN 02298b/2003 do Ủy ban nhân dân Quận G cấp ngày 21/7/2003, cập nhật sang tên ông Bùi Đăng T ngày 16/3/2020 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 001338 ngày 07/5/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 01/001338 ngày 10/6/2020, đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 07/5/2020 để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền phát mại tài sản nêu trên không đủ trả số tiền nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, ông T tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ còn thiếu cho Ngân hàng đến khi thực trả hết nợ. Trường hợp sau khi phát mại mà giá trị tài sản phát mại lớn hơn số nợ ông T còn phải trả cho Ngân hàng thì ông T được quyền hưởng giá trị chênh lệch lớn hơn này.
Trường hợp ông T trả đủ số nợ nêu trên mà không phải thực hiện việc phát mại tài sản thế chấp, Ngân hàng thương mại cổ phần S phải tiến hành giải chấp và trả lại cho ông T toàn bộ hồ sơ bản chính của tài sản thế chấp mà Ngân hàng đang giữ.
2/ Về chi phí tố tụng: Buộc ông Bùi Đăng T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 6.000.000 đồng.
Các bên thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
3/Án phí dân sự sơ thẩm là: 113.679.485 đồng, ông Bùi Đăng T phải chịu.
Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.276.732 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0007003 ngày 12 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Doãn Thị Duyên |
Bản án số 168/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 168/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
