|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 168/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/6/2024 “V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Xuân Dũng
2. Ông Trần Anh Dũng
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 65/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 898/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1042/202QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1997 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các văn bản tố tụng khác, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H trình bày: Chị và anh Lê Văn V tổ chức cưới hỏi vào đầu năm 2016, trước khi cưới anh chị có thời gian tìm hiểu khoảng vài tháng, cả hai tự nguyện đi đến hôn nhân, có giấy đăng ký kết hôn do UBND xã B, huyện T cấp. Sau khi cưới, anh chị sống chung gia đình chồng tại xã N khoảng vài tháng sau đó vào Thành phố Hồ Chí Minh lập nghiệp. Cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh V thay đổi tính tình, ham chơi, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, anh nóng tính nên có đánh đập vợ. Chị buồn bực bỏ về phía gia đình cha mẹ chị ở, chị có nghe dư luận anh có quan hệ với người phụ nữ khác, nhưng vì thương con nghe lời khuyên của gia đình chị quay về đoàn tụ. Sau đó anh vẫn tính nào tật nấy. Từ đầu năm 2020 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị xác định không còn tình cảm với chồng nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Văn V
Về con chung: Có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Khánh T, sinh ngày 14/5/2017, hiện đang ở với chị. Ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Chị đang làm nghề may, thu nhập bình quân mỗi tháng 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng).
Về tài sản chung và nợ: Chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Văn V vắng mặt nên không có lời trình bày. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh biết nhưng anh không có văn bản phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án đã triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt. Do đó Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai và hòa giải được nên trong hồ sơ không thể hiện lời khai của anh V.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến nay, tất cả các hoạt động tố tụng của những người tiến hành tố tụng và việc tuân thủ pháp luật của các đương sự, đều theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Lệ H ly hôn với anh Lê Văn V
Về con chung: Giao cháu Lê Nguyễn Khánh T, sinh ngày 14/5/2017 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chị không yêu cầu cấp dưỡng nên miễn xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Chị Nguyễn Thị Lệ H yêu cầu giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Lê Văn V, anh V có nơi cư trú tại xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn có thẩm quyền giải quyết vụ án trên.
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh V được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh vinh.
- Bị đơn anh Lê Văn V đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh vẫn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và tài liệu, chứng cứ thu thập được để giải quyết vụ án.
- Chị Nguyễn Thị Lệ H và anh Lê Văn V đủ điều kiện kết hôn, có Giấy đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã B, huyện T cấp, nên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ.
- Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, sống chung với nhau và cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Anh chị mặc dù trước khi cưới có thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn nhưng chỉ sống chung một thời gian ngắn đã xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã không còn sống chung trong một thời gian dài gần 05 năm qua. Anh V biết chị H yêu cầu ly hôn nhưng vẫn không tham gia tố tụng tại Tòa án. Qua xác minh những người thân của gia đình của anh V thì xác định anh có tâm sự với họ là không còn tình cảm với vợ, vợ chồng không thể chung sống với nhau nữa vì mâu thuẫn suốt thời gian qua, vợ chồng không quan tâm nhau. Qua phân tích ở trên, xác định quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ nên được Tòa chấp nhận.
- Vợ chồng có một người con chung là cháu tên Lê Nguyễn Khánh T, sinh ngày 14/5/2017, cháu hiện còn nhỏ, mọi sinh hoạt hàng ngày của cháu rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, hiện tại cháu đang ở với chị và thu nhập của chị đủ bảo đảm cho việc nuôi dưỡng cháu bé. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung của chị H là có căn cứ chấp nhận.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh V không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu nên miễn xét.
- Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 BLTTDS và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
- Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 1 Điều 96, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Áp dụng các Điều 19, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Lệ H ly hôn với anh Lê Văn V
- Về con chung: Giao người con chung tên Lê Nguyễn Khánh T, sinh ngày 14/5/2017 cho chị Nguyễn Thị Lệ H tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục con chung cho đến tuổi trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Không xem xét về tiền cấp dưỡng nuôi con vì chị H không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc về mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005314 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã An Nhơn.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND thị xã An Nhơn; - Các đương sự; - Chi cục THADS thị xã An Nhơn; - Lưu: Văn phòng; Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Kiều Oanh |
Bản án số 168/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 168/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Thị Lệ H và Lê Văn V
