TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2024/HS-PT
Ngày 17/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Chung
Ông Nguyễn Gia Lương.
- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 17/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 218/2024/QĐXXPT-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 12/9/2007; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12. Bố: Nguyễn Văn T, sinh năm 1976. Mẹ: Lưu Thị N, sinh năm 1980. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 11/8/2023 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (có mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ:
- Luật sư Ngô Thị T1 và Luật sư Ong Thị T2 - Văn phòng luật sư Vũ Anh H - Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ: Số D, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (luật sư T1 có mặt, Luật sư Thanh vắng mặt)
- Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt)
* Trong vụ án còn có 6 bị cáo khác và một số người tham gia tố tụng khác nhưng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 10/12/2023, Nguyễn Văn T3, sinh ngày 02/7/2007, trú tại thôn A, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô BKS 98B1- 404.44 kèm Nguyễn Văn P, sinh ngày 02/7/2007 đi đến khu vực cổng trường C1 xã X chơi. T3 và P là 2 anh em sinh đôi. Tại đây, T3 và P gặp Nguyễn Kim M, sinh ngày 25/7/2008 điều khiển xe mô tô BKS 98B3-961.61 kèm Hà Trung D, sinh ngày 21/8/2007 đều trú tại xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bốn người rủ nhau đến thành phố B chơi. D gọi điện cho Nguyễn Hoàng Đ, sinh ngày 12/9/2007, trú tại thôn C, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang rủ đi chơi (Đ làm nhân viên phục vụ quán ăn ở đường N, phường X, thành phố B). Đ hẹn với D sau khi làm xong ca sẽ đi chơi cùng mọi người. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, D rủ mọi người đến quán ăn nơi Đ làm việc để đón. Khi đi, Đ đem theo 01 con dao dài khoảng 60 cm. M nhìn thấy Đ đem theo dao nên hỏi thì Đ nói cho cả nhóm biết ngày hôm trước Đ và D bị một nhóm thanh niên đuổi đánh nên mang theo dao để nếu gặp lại thì sẽ đánh nhau. Đ cài con dao vào sườn xe máy của M rồi cả nhóm đi ra Q thành phố B chơi.
Một lúc sau, Phạm Hoàng Gia B, sinh ngày 21/8/2007, trú tại tổ F, khu C, xã S, thành phố B điều khiển xe mô tô BKS 98B3-789.10 kèm bạn gái là Nguyễn Thảo L1, sinh năm 2008, trú tại số nhà G, ngách B, ngõ E, đường P, phường T, thành phố B; Nguyễn Tuấn Đ1, sinh năm 2002, trú tại số nhà H, ngách E, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B điều khiển xe mô tô Honda Wave không biển số và Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 19/7/2007, trú tại thôn G, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô BKS 99AK - 013.45 đi đến Quảng trường 3/2 chơi thì gặp nhóm của D. Do quen biết nhau từ trước nên mọi người cùng nhau ngồi uống nước. Đ gọi điện thoại cho Dương Minh T4, sinh ngày 11/10/2006, trú tại thôn S, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (là nhân viên cùng làm tại quán với Đ) rủ đi đến Quảng trường 3/2 chơi và bảo T4 mang theo gậy rút ba khúc. T4 đồng ý và mang theo 02 chiếc gậy rút ba khúc để trong cốp xe mô tô Vision không BKS rồi đi đến gặp nhóm của Đ. Khi thấy T4 đi xe máy đến, C nói với Đ và T4 đi về quán ăn để cất chiếc xe máy của C tại đây. Cả nhóm đi quanh các tuyến đường trong thành phố B và đi lên cầu Á. Trong lúc mọi người ngồi chơi tại đây thì Hà Chí A, sinh ngày 01/10/2008, trú tại số A đường L, tổ dân phố T, phường X, thành phố B gọi điện cho Hà Trung D rủ đi chơi. Sau đó, A điều khiển xe mô tô BKS 98L2 - 4846 đi đến cầu Á cùng mọi người.
Trong buổi tối ngày 10/12/2023, Ngô Hoàng H1, sinh ngày 28/6/2008, trú tại thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang rủ Nguyễn Văn H2, sinh ngày 10/3/2006 ở cùng thôn đi đến thành phố B chơi. H2 đem theo 02 chiếc gậy rút ba khúc để trong cốp xe máy. H2 điều khiển xe mô tô BKS 98B3 - 723.81 kèm H1 đi đến quán B1, thành phố B chơi thì gặp bạn là Nguyễn Thanh H3, sinh ngày 30/9/2006 ở cùng thôn và Đỗ Thị Vân A1, sinh ngày 21/8/2006 ở thôn P, xã S, thành phố B đang đi chơi. Nhóm của H2 chơi bi-a sau đó đi uống nước đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/12/2023 thì mọi người rủ nhau đi đến khu vực cây thông Noel trên Q chơi.
Cũng trong khoảng thời gian này, nhóm của Đ rủ nhau đi về quán nơi T4 và Đ làm việc để C lấy xe đi chơi. A điều khiển xe đi đổ xăng rồi đi qua Quảng trường 3/2 thì nhìn thấy nhóm của H2 đang chơi ở vỉa hè gần cây thông Noel. A cho rằng có người trong nhóm của H2 đã đuổi đánh A vào buổi tối ngày 10/12/2023 tại khu vực Đ tỉnh Bắc Giang nên đi về quán nói cho mọi người biết và bảo ra đánh nhau. Sau đó, A đi xe một mình, M điều khiển xe chở Đ; T3 điều khiển xe chở P; D điều khiển xe chở T4 còn C điều khiển xe đi một mình cùng nhau đi ra Quảng trường 3/2. Đ1 điều khiển xe đi một mình còn B điều khiển xe mô tô kèm L1 đi phía sau cách nhóm của Đ khoảng 150 m.
Diễn biến hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo tại khu vực Quảng trường 3/2 như sau: Hà Chí A điều khiển xe đi đến gần vị trí nhóm của H2 đang ngồi chơi sau đó vòng xe quay lại và hô to thông báo với mọi người đến đánh. Thấy có người hô đánh, H2 sợ bị đánh nên mở cốp xe lấy 02 chiếc gậy rút ba khúc ra rồi đưa cho H3 cầm 01 chiếc gậy. H2 cầm gậy rút chạy về phía nhóm của A còn Nguyễn Thanh H3 và Đỗ Thị Vân A1 sợ bị nhóm của A đánh nên bỏ chạy vào giữa bãi cỏ hướng về phía toà nhà trung tâm hội nghị. Cùng lúc đó, Nguyễn Hoàng Đ xuống xe, rút con dao cài ở sườn xe của M và lao vào chém về phía H2 và H3 02 nhưng không trúng. Đ chém nhát thứ 2 thì trúng vào đầu ngón tay I, II bàn tay phải của H2 làm chảy máu. Ngô Hoàng H1 thấy vậy cầm gậy rút vụt 01 cái về phía Đ nhưng không trúng. H2 và H1 sợ nên để xe máy lại và bỏ chạy vào bãi cỏ hướng về phía Trung tâm hội nghị. Đ cầm dao tiếp tục đuổi theo. Nguyễn Văn T3 và Hà Trung D cầm gậy rút ba khúc còn Nguyễn Văn P, Dương Minh T4, Nguyễn Kim M, Hà Chí A xuống xe chạy đuổi theo nhóm của H2 để đánh. Nguyễn Mạnh C điều khiển xe máy đuổi theo H2 và H1 để đánh. Nhóm của T3 đuổi theo nhóm của H2 khoảng 20m thì không kịp nên cả nhóm quay lại lấy xe đuổi theo. H2 và H1 sợ bị đánh nên chạy vào trong tòa nhà của Trung tâm hội nghị tỉnh B trốn và gọi điện báo cho lực lượng Công an 113 biết. Lúc này, B và L1 vừa đi đến không tham gia đuổi đánh nhau; B nhìn thấy A định đạp vào xe máy của H2 để ở đó nên can ngăn. Đối với Nguyễn Tuấn Đ1 đi xe máy phía sau quan sát thấy nhóm của H2 bị đánh bỏ chạy nên phóng xe đuổi theo đến khu bãi cỏ cạnh cây thông noel. Khi Đ1 đi đến nơi thì gặp T3 đang cầm gậy rút đuổi đánh nhóm H2. Đ1 chở T3 quay lại để lấy xe máy đuổi theo nhóm của H2. Sau đó, nhóm của Đ gồm T3 điều khiển xe mô tô BKS 98B1-404.44 chở P; M điều khiển xe mô tô BKS 98B3-961.61 chở Đ; D điều khiển xe mô tô BKS Vision không gắn BKS chở T4; C điều khiển mô tô BKS 99AK - 013.45; Đ1 điều khiển xe mô tô Honda Wave không gắn BKS và A điều khiển xe mô tô BKS 98L2 - 4846 cùng nhau tiếp tục điều khiển xe máy đi quanh khu trung tâm hội nghị truy tìm nhóm của H2 để đánh nhưng do không tìm thấy nên mọi người đi đến khu vực cổng đền X ngồi chơi tại cổng đền khoảng 15 phút rồi ra về.
Sau khi sự việc xảy ra, Tổ dân phố số G phường N; UBND phường N; Công an phường N, thành phố B đã có văn bản đề nghị Cơ quan CSĐT Công an thành phố B xử lý các đối tượng về hành vi gây rối trật tự công cộng vì gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn.
Về thương tích của Nguyễn Văn H2: Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành thương tích của H2.
* Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 1998 ngày 10/01/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Thương tích vết thương đốt 2 ngón I kích thước trung bình + Xquang bàn tay phải: Mất một phần đầu xa đốt 2 ngón I bàn tay phải: 4%.
- Thương tích vết thương đốt 3 ngón II kích thước trung bình: 2%.
2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn H2 tại thời điểm giám định là: 6%.
3. Cơ chế, vật gây thương tích: Thương tích do vật sắc gây nên.
* Kết luận giám định vật gây thương tích số 1998B ngày 10/01/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm của tổn thương, xác định: Vật gửi giám định là vật gây ra được các thương tích của Nguyễn Văn H2.
Ngày 23/01/2024, Nguyễn Văn H2 xin rút đơn và không yêu cầu xử lý đối với các bị cáo về hành vi cố ý gây thương tích.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 02 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh tại khu vực hiện trường ghi lại diễn biến sự việc. Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định sau:
+ File video có tên “Video 1.mp4"; dung lượng 31MB, thời lượng 01 phút 57 giây.
+ File video có tên “Video 2.mp4"; dung lượng 4,12MB, thời lượng 02 phút 23 giây.
- Trích xuất được 14 (mười bốn) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra cho Hà Trung D, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn P, Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Hoàng Đ, Dương Minh T4 và Nguyễn Tuấn Đ1 và cho Hà Chí A, Nguyễn Kim M quan sát các file video và bản ảnh trích xuất. Kết quả các đối tượng đều xác định có hình ảnh thực hiện hành vi đuổi, đánh anh H2 và anh H1 tại khu vực Quảng trường 3/2, thành phố B. Sau khi nhóm của anh H2 bỏ chạy thì các bị cáo sử dụng xe máy truy đuổi xung quanh Trung tâm hội nghị tỉnh Bắc Giang.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường cho Nguyễn Văn H2 tổng số tiền là 53.000.000 đồng. Trong đó bị cáo Đ bồi thường 20.000.000 đồng; bị cáo T4 bồi thường 10.000.000 đồng; bị cáo C bồi thường 10.000.000 đồng; bị cáo T3 và P bồi thường 10.000.000 đồng; bị cáo Đ1 bồi thường 2.000.000 đồng; bị cáo D bồi thường 1.000.000 đồng. Anh H2 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
* Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang quyết định:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 năm 08 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 6 bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 07/6/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng Đ có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, không xin hưởng án treo, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo trình bày: Bản án sơ thẩm xử như vậy là đúng người đúng tội nhưng phạt tù giam bị cáo là nặng. Bị cáo bị bạn bè rủ rê lôi kéo, bị cáo ân hận về việc mình đã làm. Tòa án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 08 tháng tù là nặng. Bị cáo cung cấp thêm nột số tài liệu mới: Quá trình học tập phổ thông bị cáo có nhiều năm là được tặng giấy khen, bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Văn T5 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến và kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo cơ hội để bị cáo sửa chữa sai lầm.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
* Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xem xét xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt
* Bị cáo Đ đồng ý với ý kiến của người bào chữa, bị cáo không tranh luận gì.
* Đại diện VKS đối đáp giữ nguyên quan điểm.
* Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai, bị cáo rất ăn năn, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với vật chứng đã thu được. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, Nguyễn Văn T3 điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Văn P; Nguyễn Kim M điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Hoàng Đ và mang theo 01 con dao dài 65cm; Hà Trung D điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Minh T6 và mang theo 02 gậy rút ba khúc bằng kim loại; Nguyễn Tuấn Đ1, Nguyễn Mạnh C, Hà Chí A điều khiển xe mô tô đi một mình đi đến Q, thành phố B để đánh nhau. Nhóm của Đ đuổi đánh nhóm của Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thanh H3, Ngô Hoàng H1 và Đỗ Thị Vân A1 đang ngồi chơi ở gần cây thông Noel trên Quảng trường 3/2. Trong đó, Đ dùng dao chém H2 bị thương tích 06%. Khi H2 và H1 bỏ chạy theo hướng khu tòa nhà Trung tâm hội nghị tỉnh thì nhóm của Đ cầm hung khí đuổi theo nhưng không đuổi kịp. Sau đó, nhóm của Đ gồm T3 điều khiển xe mô tô BKS 98B1- 404.44 chở P; M điều khiển xe mô tô BKS 98B3-961.61 chở Đ; D điều khiển xe mô tô BKS Vision không gắn BKS chở T6; C điều khiển mô tô BKS 99AK - 013.45; Đ1 điều khiển xe mô tô Honda Wave không gắn BKS và A điều khiển xe mô tô BKS 98L2 - 4846 tiếp tục điều khiển xe mô tô đi quanh khu tòa nhà Trung tâm hội nghị tỉnh truy tìm nhóm H2 để đánh nhưng không tìm thấy nên cả nhóm đi lên cổng thành X, thành phố B chơi rồi ra về. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố B.
Như vậy bị cáo Đ cùng các bị cáo khác bị cáo cầm hung khí, tham gia đuổi nhóm của Nguyễn Văn H2 trên đường, Đ dùng dao chém H2 bị thương tích 06% hành vi của Đ và nhóm đối tượng đã gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm mất an toàn xã hội, gây hoang mang, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân. Hành vi phạm tội của cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến nếp sống bình thường của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điểu khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai.
Tại phiên tòa, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên các vấn đề khác của án sơ thẩm đã tuyên về tội danh, điều luật áp dụng, phạt bổ sung, án phí sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Hội đồng xét xử thấy:
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 năm 08 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo Đ xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới, khác so với phiên tòa sơ thẩm: Quá trình học tập phổ thông bị cáo có nhiều năm là được tặng giấy khen, bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Văn T5 được Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến và kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam. Do vậy, áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với Đ.
Căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm thấy bị cáo có tiền sự, năm 2023 bị Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng nên bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của địa diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hoàng Đ. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023).
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 168/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 168/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng Đức - Gây rối TTCC
