|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày 12-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sỹ.
- Ông Nguyễn Ron
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Quốc Trạng – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 157/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Việt Q (tên gọi khác: Ken); sinh ngày 10/12/1973 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe ba gác; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Việt T (chết) và bà Võ Thị M (chết); có vợ và 03 con (lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2016); tiền án: 01 – Ngày 29/10/2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 20/6/2008; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/7/1995 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, chấp hành xong hình phạt ngày 20/4/1996; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc T1; sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ B, khu phố D, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Thanh H; sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Việt Q đã lợi dụng sự sơ hở của ông Nguyễn Ngọc T1 trong việc quản lý chìa khoá mở cửa kho vật liệu xây dựng tại số nhà D, đường H, phường Đ, thành phố Q. Trong khoảng thời gian từ ngày 17 đến ngày 18/12/2023, Q đã 02 lần lén lút đột nhập vào kho vật liệu xây dựng của ông T1 lấy trộm tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 01 giờ 12 phút ngày 17/12/2023, Q đến mở cửa kho vật liệu của ông T1 rồi điều khiển xe ba gác vào bên trong lén lút chiếm đoạt 10 bao xi măng hiệu “Hoàng Long”, loại 50kg/bao; 50kg đinh thép loại có kích thước 05cm; 32kg sắt cuộn Ø6 của anh T1 rồi rời đi. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe ba gác chở số vật liệu trên đến cửa hàng vật liệu xây dựng “Minh Hải” tại số nhà B, đường H, thành phố Q gặp ông Nguyễn Thanh H. Tại đây, Q nói dối với ông H rằng số vật tư xây dựng này là do Q chở cho công trình ngoài khu Đại Phú G, nay công trình đã làm xong còn dư nên chở đi bán, ông H không nghi ngờ gì và đồng ý mua số vật tư trên với giá 1.766.000 đồng, số tiền có được Q đã tiêu xài hết.
Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Q tiếp tục điều khiển xe ba gác đến kho vật liệu xây dựng của anh T1 lén lút chiếm đoạt 12 bao xi măng hiệu “Hoàng Long”, loại 50kg/bao; 50kg đinh thép loại có kích thước 05cm. Sau đó, Q bán số vật liệu này cho anh H được số tiền 1.470.000 đồng, số tiền có được Q tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 01/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận:
- 10 bao xi măng hiệu “H”, loại 50kg/bao, chưa sử dụng, trị giá 800.000 đồng.
- 50kg đinh thép loại có kích thước 05cm, chưa qua sử dụng, trị giá 1.100.000 đồng.
- 32kg sắt cuộn Ø6, chưa qua sử dụng, trị giá 544.000 đồng.
- 12 bao xi măng hiệu “H”, loại 50kg/bao, chưa sử dụng, trị giá 960.000 đồng.
- 50kg đinh thép loại có kích thước 05cm, chưa qua sử dụng, trị giá 1.100.000 đồng.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q đã tạm giữ: 01 xe ba gác máy, loại xe tự chế 03 bánh, màu đen, chiều dài xe 2,5m, chiều cao 85cm, chiều rộng 01m, khung chở hàng bằng kim loại kích thước (1,27 x 0,84 x 0,44)m, không có biển số, không có số khung và số máy, đã qua sử dụng.
Về dân sự: Trần Việt Q đã bồi thường cho bị hại T1 số tiền 4.504.000 đồng. Ông T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 166/CT-VKSQN ngày 05/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Trần Việt Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Việt Q thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập; bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Tòa xử phạt nhẹ.
Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Việt Q từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe ba gác máy, loại xe tự chế 03 bánh, màu đen, chiều dài xe 2,5m, chiều cao 85cm, chiều rộng 01m, khung chở hàng bằng kim loại kích thước (1,27 x 0,84 x 0,44)m, không có biển số, không có số khung và số máy, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
Bị cáo thống nhất như lời luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tham gia tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Trần Việt Q nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái và xin Toà xử phạt nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên về cơ bản bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại, đương sự không có ý kiến khiếu nại.
- Bị cáo Trần Việt Q thực hiện các hành vi bị truy tố khi đã trên 18 tuổi, trong tình trạng không bị mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Trong các đêm ngày 17, 18/12/2023, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản, điều khiển xe ba gác lén lút vào trong kho vật liệu xây dựng của ông Nguyễn Ngọc T1, chiếm đoạt số vật liệu xây dựng chưa qua sử dụng gồm có: 22 bao xi măng hiệu “Hoàng Long”, loại 50kg/bao; 100kg đinh thép, loại có kích thước 05cm; 32kg sắt cuộn Ø6; tổng giá trị là 4.504.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đồng thời có 01 tiền án về tội “Cướp giật tài sản” với lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, nhân thân bị cáo còn có 01 bản án xử phạt tù (đã được xóa án tích); cho nên, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với ông Nguyễn Thanh H có hành vi mua số vật liệu xây dựng mà bị cáo đã chiếm đoạt nhưng không có hứa hẹn trước và không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên chưa có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.
- Vật chứng của vụ án hiện đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/7/2024, theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe ba gác máy, loại xe tự độ chế lắp ráp có 03 bánh, màu đen, gồm có khung chở hàng phía trước, máy nổ phía sau, chiều dài toàn bộ xe 2,5m, chiều cao 0,85m, chiều rộng 01m, khung chở hàng bằng sắt kích thước (1,27 x 0,84 x 0,44)m, không có số khung và số máy, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không tiếp tục xem xét.
- Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng cơ bản phù hợp với nhận định nêu trên.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Việt Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Việt Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe ba gác máy, loại xe tự độ chế lắp ráp có 03 bánh, màu đen, gồm có khung chở hàng phía trước, máy nổ phía sau, chiều dài toàn bộ xe 2,5m, chiều cao 0,85m, chiều rộng 01m, khung chở hàng bằng sắt kích thước (1,27 x 0,84 x 0,44)m, không có số khung và số máy, đã qua sử dụng (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Trần Việt Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 12 tháng tù
