|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 168/2024/HS-ST
Ngày 06/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Ngô Thuỳ Phương, bà Nguyễn Thị Phú.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 171/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn S, sinh năm 1990. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Hà Văn H, sinh năm 1966. Họ và tên mẹ: Hứa Thị H1, sinh năm 1964. Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
2. Trần Văn B, sinh năm 1998. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Trần Văn T, sinh năm 1972. Họ và tên mẹ: Trần Thị U, sinh năm 1977. Gia đình có 02 chị, em, bị cáo là con hai. Vợ: Đinh Thị T1, sinh năm 1997. Con: Chưa có
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
3. Nguyễn Trọng N, sinh năm 1998. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. HKTT: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Minh C, sinh năm 1975. Họ và tên mẹ: Hoàng Thị D, sinh năm 1975. Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ, con: Chưa có.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không
- Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn B: Ông Nguyễn Văn H2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng N: Ông Trần Văn T2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Ông Nguyễn Kim S1 – Cán bộ phụ trách tin học Toà án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
+ Cán bộ phụ trách tin học Trại tạm giam – Công an tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/5/2024, Trần Văn B đang ở phòng trọ thuộc khu trọ của gia đình bà Nguyễn Thị T3 tại khu G, phường P, thị xã Q, do không có tiền ăn tiêu và được bạn ngoài xã hội cho biết Hà Văn S hiện đang thuê trọ tại khu trọ của gia đình ông Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1979, ở tại cùng khu phố B đang thuê trọ có bán ma túy nên B nảy sinh ý định đi mua ma túy của S về bán để hưởng tiền chênh lệch. Sau đó, B đi bộ đến phòng trọ gặp S hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy H3, S đồng ý. Lúc này, B đưa cho S 100.000 đồng, S cầm tiền và đưa lại cho B 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng. Bách biết là ma túy cần mua nên cầm gói ma túy rồi đi về phòng trọ tại khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, B đang đứng trước cửa phòng trọ thì Nguyễn Trọng N (do bạn ngoài xã hội cho biết Bách có bán ma túy) đi đến gặp B hỏi mua 200.000 đồng ma túy, B đồng ý. Tại đây, N đưa cho B 200.000 đồng, B cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên phải đang mặc đồng thời đưa cho N 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa 01 gói giấy bạc màu trắng, chứa chất bột màu trắng vừa mua được của S. N biết là ma túy cần mua nên cầm gói ma túy cất vào túi quần đang mặc thì bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q phối hợp với Công an phường P bắt quả tang B, N và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của B 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của N 01 gói giấy màu trắng, bên trong chứa gói giấy bạc màu trắng, chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1). Có sự chứng kiến của anh Dương Văn C1, sinh năm: 1989, HKTT: T, Chiêu V, B, Lạng Sơn và chị Lê Thị N1, sinh năm 2003, HKTT: Chiềng Khạt, Đ, L, Thanh Hóa. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày 10/05/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tiến hành triệu tập Hà Văn S, sinh năm 1990, HKTT: xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên lên làm việc. Tại cơ quan điều tra Hà Văn S đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho B và giao nộp số tiền 100.000 đồng.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của S tại khu phố G, phường P, thị xã Q, thu giữ tại nền giường trong phòng trọ của S 01 (một) gói nilong màu trắng và 01 (một) túi nilong màu đen, bên trong đều chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu M2) và 01 (một) cân tiểu ly màu trắng. Khám xét chỗ ở của B khu phố G, phường P, thị xã Q, kết quả không thu giữ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 1172/KL-KTHS ngày 13/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,1258 gam; là ma tuý, loại ma tuý Heroine.
Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu trắng (trong phong bì thư ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng là 0,8300 gam; là ma tuý, loại ma tuý Heroine.
Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu đen (trong phong bì thư ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng là 0,0365 gam; là ma tuý, loại ma tuý Heroine.”
Heroine (H3) có tên khoa học là D1 là chất ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Về nguồn gốc số ma túy S bán cho B và số ma túy bị thu giữ tại phòng trọ. Quá trình điều tra S khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 10/05/2024 với giá 400.000 đồng mục đích bán kiếm tiền chênh lệch. Số ma túy trên S đã chỉ chia nhỏ bán cho B là người đầu tiên và chưa bán cho ai khác.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, Hà Văn S, Trần Văn B và Nguyễn Trọng N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKSQV ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Hà Văn S, Trần Văn B về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trọng N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo S đã khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/5/2024, B đi bộ đến phòng trọ của S để hỏi mua 100.000 đồng tiền ma túy H3, S đồng ý. B đưa cho S 100.000 đồng, S cầm tiền và đưa lại cho B 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng. Bị cáo B đã khai nhận: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 10/5/2024, khi B đang đứng trước cửa phòng trọ ở khu phố G, phường P thì có Nguyễn Trọng N đến hỏi mua 200.000 đồng ma túy heroine. B đồng ý rồi đưa cho N 01 gói giấy màu trắng, trong là ma tuý mà B vừa mua được của Hà Văn S về bán để hưởng tiền chênh lệch. Khi hai bên vừa giao dịch mua bán xong thì bị lực lượng công an bắt quả tang, thu giữ tang vật. Các bị cáo S, B đã thừa nhận hành vi của mình là có tội, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố các bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" là đúng. Đối với bị cáo N, bị cáo cũng thừa nhận vào hồi 20 giờ 35 phút ngày 10/5/2024, bị cáo đã mua ma tuý của B với giá 200.000 đồng để sử dụng, khi chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng công an bắt quả tang, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Hà Văn S, Trần Văn B phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Hà Văn S từ 32 – 36 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Trần Văn B từ 25 - 29 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trọng N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Trọng N từ 13 - 17 tháng tù.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ, tịch thu tiêu huỷ 01 cân tiểu ly và mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo B, N.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn B, Nguyễn Trọng N nhất trí với tội danh, điều luật và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, xử phạt các bị cáo với hình phạt nhẹ nhất.
Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ các hành vi, quyết định tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; thời gian, địa điểm, vật chứng thu được, lời khai của những người làm chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/5/2024, tại phòng trọ của Hà Văn S thuộc khu phố G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn B có hành vi mua trái phép 0,1258 gam ma tuý Heroin của Hà Văn S với giá 100.000 đồng với mục đích để bán hưởng tiền chênh lệch. Đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, khi B đang ở phòng trọ của mình thuộc khu phố G, phường P thì có hành vi bán trái phép 0,1258 gam ma tuý H3 cho Nguyễn Trọng N lấy số tiền 200.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở tại phòng trọ của S còn tàng trữ 0,8665 gam ma tuý Heroin với mục đích để bán kiếm lời. Như vậy, B phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1258 gam ma tuý Heroin; N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,1258 gam ma tuý Heroin; S phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 0,9923 gam ma tuý Heroin. Như vậy, hành vi của các bị cáo Hà Văn S, Trần Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được được quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng N đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho con người, cộng đồng và cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hộị, tiếp tay cho những kẻ buôn bán ma túy là mầm mống của nhiều căn bệnh thế kỷ cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy hành vi của các bị cáo phải được xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hà Văn S đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Trọng N có ông nội là ông Nguyễn Duy T5 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng ba nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra, ngoài hình phạt chính cần phạt các bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nhưng xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của phòng K Công an tỉnh B là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy
- Đối với 01 cân tiểu ly là công cụ, phương tiện phạm tội, nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ trên người của Trần Văn B và số tiền 100.000 đồng thu giữ của Hà Văn S là tiền các bị cáo bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[7] Liên quan trong vụ án này còn có:
- Đối với người đàn ông bán ma tuý cho S, S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
- Đối với bà Nguyễn Thị T3 và anh Nguyễn Hữu T6 đã cho S và B thuê phòng trọ quá trình điều tra xác định bà T3 và anh T6 không biết việc B và S bán ma túy tại phòng trọ nên cơ quan CSĐT Công an thị xã Q không xử lý là phù hợp.
[8] Về án phí:
Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo B và bị cáo Nghĩa là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, căn cứ quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo B, N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S, Trần Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: H (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: Trần Văn B 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xử phạt: Nguyễn Trọng N 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ.
Tịch thu tiêu huỷ 01 cân tiểu ly và mẫu vật chứng còn lại sau giám định niêm phong trong phong bì thư có dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
(Vật chứng hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 141 ngày 16/8/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Bị cáo S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo B, bị cáo N.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Thảo |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn S và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
