Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/DS-ST

Ngày: 04/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Quý Phượng.
  2. Bà Lương Viễn Tú.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 197/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST-DS ngày 10/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; trụ sở: số H đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Trung N hoặc ông Ngô Đa Huỳnh H, địa chỉ: Tầng A, tòa nhà A, số I đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 7432/2023/UQ-VPB ngày 10/10/2023) (có mặt)

Bị đơn:

Ông Võ Văn T, sinh năm 1974; địa chỉ: số A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

Bà Phạm Thị Quỳnh H1, sinh năm 1996; địa chỉ: Số G đường K, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2023, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 17/01/2017, Ngân hàng Thương mại cổ phần V (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 có ký Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL (gọi tắt là Hợp đồng tín dụng), cụ thế:

  • Số tiền vay: 515.200.000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm mười lăm triệu hai trăm nghìn đồng).
  • Mục đích vay: Vay mua ô tô KIA RONDO, mới 100%.
  • Thời hạn vay: 72 tháng, tính từ ngày tiếp theo của ngày Bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên Bên vay.
  • Phương thức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất cho vay 7.8%/năm. Cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA RONDO, biển số đăng ký: 51G - 260.34, số khung: RNYRP51A6GC095434, số máy: G4NAGH332933 thuộc quyên sở hữu của ông Võ Văn T theo Hợp đng thế châp số LN1701040011103/GDH/HĐTC/PL ký ngày 17/01/2017. Chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm số 1238105662 lúc 14 giờ 18 phút ngày 17/01/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản TP ..

Quá trình sử dụng vốn vay, khách hàng thanh toán nợ cho Ngân hàng đến tháng 03/2021. Sau đó, khách hàng đã không tiếp tục thanh toán nợ vay cho Ngân hàng như theo các hợp đồng tín dụng đã ký. Ngày 17/03/2021, khoản vay từ Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ký ngày 17/01/2017 chuyển nợ quá hạn. Dư nợ tạm tính đến ngày 03/08/2023 của là 216.963.531 đồng, trong đó nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 66.719.531 đồng.

Ngày 06/01/2017, ông Võ Văn T có làm Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ (gọi tắt là Hợp đồng thẻ) với Ngân hàng với ông Võ Văn T với hạn mức là 35.000.000 đồng.

Từ ngày 17/03/2021 ông Võ Văn T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Dư nợ tạm tính đến ngày 03/08/2023 là: 91.317.547 đồng, trong đó nợ gốc là 35.000.000 đồng và nợ lãi quá hạn là 56.317.547 đồng.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án:

  1. Buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ký ngày 17/01/2017 tạm tính đến ngày 02/10/2023 là 222.339.591 đồng (Bằng chữ: Hai trăm hai mươi hai triệu ba trăm ba mươi chín nghìn năm trăm chín mươi mốt đồng), trong đó nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 72.095.591 đồng.
  2. Ngoài ra, ông T và bà H1 còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 02/10/2023 cho đến khi trả hết nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 72.095.591 đồng.
  3. Buộc ông Võ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 06/01/2017 tạm tính đến ngày 02/10/2023 là 97.336.058 đồng (Bằng chữ: Chín mươi bảy triệu ba trăm ba mươi sáu ngàn không trăm năm

mươi đồng), trong đó nợ gốc là 35.000.000 đồng và nợ lãi quá hạn và là 62.446.058 đồng.

  1. Trường hợp ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản thế chấp là 01 xe ôtô nhãn hiệu KIA RONDO, biển số đăng ký: 51G – 260.34, số khung: RNYRP51A6GC095434, số máy: G4NAGH332933 thuộc quyền sở hữu của ông Võ Văn T theo Hợp đồng thế chấp số LN1701040011103/GDH/HĐTC/PL ký ngày 17/01/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản TP ..
  2. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên mà ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 vẫn chưa trả hết nợ thì ông vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại.

Ngày 25/4/2024, Ngân hàng có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là xe ôtô nhãn hiệu KIA RONDO, biển số đăng ký: 51G – 260.34, số khung: RNYRP51A6GC095434, số máy: G4NAGH332933 thuộc quyền sở hữu của ông Võ Văn T theo Hợp đồng thế chấp số LN1701040011103/GDH/HĐTC/PL ký ngày 17/01/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ.

* Đối với bị đơn ông Võ Văn T:

Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an P, Quận A: “Ông Võ Văn T, sinh năm 1974 cùng bà Phạm Thị Quỳnh H1, sinh năm 1996 có hộ khẩu thường trú A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư trú tại địa phương. Ông Võ Văn T, sinh năm 1974 ngày 21/3/2022 cư ngụ 290B/23 đường D, Phường A, Quận H”; Căn cứ vào Kết quả xác minh của Công an P1, Quận H: “Tại địa chỉ B D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên Võ Văn T sinh năm 1974 cư ngụ tại địa phương” nên Tòa án căn cứ theo hướng dẫn tại điểm e khoản 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định ông Võ Văn T có nơi cư trú cuối cùng tại A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

* Đối với bị đơn bà Phạm Thị Quỳnh H1:

Theo vào Kết quả xác minh của Công an P2, Quận D: “Bà Phạm Thị Quỳnh H1, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện cư trú G đường K, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh”. Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến đối với phía bị đơn được.

* Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Ngô Đa Huỳnh H yêu cầu:

  • Buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ký ngày 17/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 246.174.669 (hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 95.930.669 đồng.
  • Buộc ông Võ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 06/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 127.321.878 (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 35.712.076 đồng và nợ lãi quá hạn và là 91.609.802 đồng.
  • Ngoài ra, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 05/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.
  • Không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

  • Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chưa đảm bảo thời hạn tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn; chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; sau khi nghe đương sự có mặt tại phiên tòa trình bày, căn cứ vào nội dung tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng Thương mại cổ phần V khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 về hợp đồng vay tài sản nên đây là vụ án tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Võ Văn T có cư trú cuối cùng tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 8 giờ 00 phút ngày 10/6/2024 và 8 giờ 00 phút ngày 04/7/2024, bị đơn đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu số tiền nợ của nguyên đơn:

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ngày 17/01/2017 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1, căn cứ vào Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 06/01/2017 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Võ Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy đây là các giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T, bà H1 đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán; việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà H1 trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 và Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận là phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở:

  • Buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ký ngày 17/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 246.174.669 (hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 95.930.669 đồng.
  • Buộc ông Võ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 06/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 127.321.878 (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 35.712.076 đồng và nợ lãi quá hạn và là 91.609.802 đồng.
  • - Ngoài ra, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng trên từ ngày 05/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.

[4] Về xử lý tài sản đang thế chấp:

Để đảm bảo khoản vay, ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 đã thế chấp bằng Xe ôtô nhãn hiệu KIA RONDO, biển số đăng ký: 51G – 260.34, số khung: RNYRP51A6GC095434, số máy: G4NAGH332933 thuộc quyền sở hữu của ông Võ Văn T theo Hợp đồng thế chấp số LN1701040011103/GDH/HĐTC/PL ký ngày 17/01/2017 tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh tuy nhiên Ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự là đồng.

[6] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần V.
    • Buộc ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay số LN1701040011103/GDH/HĐTD/PL ký ngày 17/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 246.174.669 (hai trăm bốn mươi sáu triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi chín) đồng, trong đó nợ gốc là 150.244.000 đồng và lãi quá hạn là 95.930.669 đồng.
    • - Buộc ông Võ Văn T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V một lần tổng số tiền nợ theo quy định tại Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng và đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 06/01/2017 tạm tính đến ngày 04/7/2024 là 127.321.878 (một trăm hai mươi bảy triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi tám) đồng, trong đó nợ gốc là 35.712.076 đồng và nợ lãi quá hạn và là 91.609.802 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã ký thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thẻ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí:

    Ông Võ Văn T và bà Phạm Thị Quỳnh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 12.308.733 (mươi hai triệu ba trăm lẻ tám nghìn bảy trăm ba mươi ba) đồng.

    Ông Võ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.366.094 (sáu triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm chín mươi bốn) đồng.

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.707.027 (Bảy triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn không trăm hai mươi bảy)

đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021621 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tông đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 11;
  • - Chi cục THADS Quận 11;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hoài

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2024/DS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 168/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger