|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2024/HS-ST Ngày: 13/11/2024 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Văn Thành
2/ Bà Lê Ngọc Lan
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên
Ngày 13/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/QĐXXST-HS ngày 01/11/2024 đối với các bị cáo:
- ĐOÀN T, sinh năm 1993, tại Đồng Nai; Trú tại: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đoàn T, sinh năm: 1968; Con bà: Nguyễn Thị Lệ L, sinh năm: 1974; Vợ, con: chưa có;
- ĐỖ CHÍ H, sinh năm: 1991, tại Đồng Nai; Trú tại: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Chí T1, sinh năm: 1950; Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm: 1958; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 30/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 07/02/2024; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 11/6/2024 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(có mặt tại phiên tòa).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đến ngày 10/6/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đoàn T2, sinh năm: 1968.
Trú tại: Khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (có mặt)
- Người làm chứng: Ông Lê Công H1, sinh năm: 2005. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Tài, Đỗ Chí H là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội và cùng là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, loại và hình thức sử dụng là chích Heroin.
Vào khoảng 08 giờ 30, ngày 02/06/2024, Đoàn T nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Đỗ Chí H với nội dung: “A đãi e chơi (sử dụng ma túy) bữa cuối nha a. tí em lên c.ty e xin nghĩ lun e ở nhà cai lun” thì H đồng ý và nói T đến chở đi mua ma túy.
T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, màu xanh, biển số 60K6-5148 đi từ nhà đến một quán cà phê chở H đi mua ma túy tại khu vực thị trấn D, huyện T nhưng không có. Sau đó, T tiếp tục chở H đến khu vực ngã ba C, phường X, thành phố L. H nói T đứng đợi, còn H đi bộ đến gặp và mua từ một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ họ tên, lai lịch) 03 tép H2 (đoạn ống nhựa hút nước chứa Heroin hàn kín 02 đầu) với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy (H2) H cất giấu vào người, T tiếp tục chở H đi tìm chỗ sử dụng. Trên đường đi, H mua một chai nước suối 500ml hiệu Aquafina ở một tiệm tạp hóa. Sau đó cả hai đi đến khu vực lô cao thuộc tổ A, khu phố N, phường S, thành phố L để sử dụng.
Tại đây, H cất 01 tép H2 vào bóp cá nhân, đưa cho T 01 tép Heroin. Lấy 01 tép Heroin còn lại cắt ra đổ ra tay. Nhưng do thấy ít không đủ cho cả hai sử dụng nên H kêu T góp thêm Heroin của T để cả hai cùng sử dụng. T lấy 1/2 Heroin từ 01 tép Heroin của mình, đổ ra tay H, số còn lại T hàn lại cất vào gói thuốc lá của mình. H và T chia đôi số Heroin trên tay H cùng sử dụng (ống chích H và T đã chuẩn bị sẵn của ai người đó sử dụng).
Đến khoảng 10h10 cùng ngày sau khi H và T vừa sử dụng xong thì Công an phường S, thành phố L kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ trên người T, H mỗi người 01 tép Heroin niêm phong tang vật, bên ngoài có chữ ký của T, H theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 1164/KL-KTHS ngày 10/6/2024, Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- + Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M1, thu giữ trên người H) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1356 gam, loại: Heroine;
- + Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M2, thu giữ trong gói thuốc lá trên người T) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,0202 gam, loại: Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 159/CT-VKSLK ngày 23/09/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố bị cáo Đoàn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Đỗ Chí H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đỗ Chí H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Về hình phạt:
- - Đối với bị cáo T: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đoàn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng Điều 55 - Bộ luật hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật.
- - Đối với bị cáo H: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng Điều 55 - Bộ luật hình sự, đề nghị tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật ..
* Về vật chứng:
- + Đề nghị tiêu hủy 02 tép Heroin thu giữ sau giám định được Phòng K Công an tỉnh Đ niêm phong trong phong bì số: 1164/KL-KTHS ngày 10/6/2024, tên đối tượng Đoàn T; Đỗ Chí H; 02 kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nước suối 500ml, hiệu Aquafina.
- + Đề nghị sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Redmi, số sim 0907190102 của H và 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim 0352606474 của T.
- + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, màu xanh, biển số 60K6-5148. Qua điều tra, chiếc xe trên do ông Đoàn T2, sinh năm 1968, nơi cư trú: khu phố T, thị trấn D, huyện T, Đồng Nai (cha ruột của T) mua của ông Cù Văn H3, nơi cư trú: 141, khu phố A, phường T, thành phố B, Đồng Nai (có làm giấy tờ mua bán nhưng đã bị thất lạc). Qua xác minh không có người tên Cù Văn H3. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.
* Lời nói sau cùng:
- + Bị cáo T: Bị cáo thấy hối hận về việc làm của mình. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để về lo cho con và cố gắng làm một người công dân tốt.
- + Bị cáo H: Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã nhân ra hành vi sai trái của mình. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo tái hòa nhập cộng đồng, làm người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện:
Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 02/6/2024, tại khu vực lô cao su thuộc khu phố N, phường S, thành phố L, Công an phường S, thành phố L bắt quả tang Đoàn T, Đỗ Chí H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau. Ngoài ra, Đoàn T có hành vi tàng trữ 0,0202 gam ma túy loại Heroin và Đỗ Chí H tàng trữ 0,1356 gam ma túy loại Heroin để sử dụng.
Trong vụ án này, bị cáo Đoàn T có hành vi tàng trữ 0,0202 gam ma túy loại Heroin nhưng do bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên hành vi này đã cấu thành tội phạm được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia với vai trò người thực hành. Trong đó, bị cáo T là người nhắn tin rủ bị cáo H mua ma túy sử dụng, là người chở H đi tìm mua ma túy, góp thêm ma túy để sử dụng. Bị cáo H là người bỏ tiền mua ma túy để cả hai cùng nhau sử dụng.
Như vậy, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đoàn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Đỗ Chí H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý ma túy. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần. Tội phạm ma túy còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác nên Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng... trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần áp dụng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời răn đe và phòng ngừa chung là cần thiết.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về vật chứng:
- + Đối với 01 phong bì niêm phong số: 1164/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 02 kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nước suối 500ml, hiệu Aquafina không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi, số sim 0907190102 của bị cáo H và 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim 0352606474 của bị cáo T là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong, màu xanh, biển số 60K6-5148. Qua điều tra, chiếc xe trên do ông Đoàn T2 (cha ruột của T) mua của ông Cù Văn H3, nơi cư trú: 141, khu phố A, phường T, thành phố B, Đồng Nai (có làm giấy tờ mua bán nhưng đã bị thất lạc). Qua xác minh không có người tên Cù Văn H3. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.
[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với người đàn ông chạy xe ôm, người đã bán ma túy cho H, hiện nay chưa xác định rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp phần lớn với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: các bị cáo Đoàn T, Đỗ Chí H phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Xử phạt: Bị cáo Đoàn T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Xử phạt: Bị cáo Đỗ Chí H 02 (hai) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp chấp hành án (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/6/2024 đên ngày 10/6/2024).
* Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì niêm phong số: 1164/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 02 kim tiêm đã qua sử dụng; 01 vỏ chai nước suối 500ml, hiệu Aquafina không còn giá trị sử dụng.
- + Sung ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi, số sim 0907190102 của bị cáo H và 01 điện thoại di động hiệu Realme, số sim 0352606474 của bị cáo T.
(Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2024)
* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hải |
Bản án số 168/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 168/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Đoàn T 03 năm tù; Đỗ Chí H 03 năm tù
