|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 168/2025/HSST Ngày: 12/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Loan
Bà Nguyễn Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 2- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 147/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2025/QĐXXST-HS ngày 24/11/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Duy Q, sinh ngày 01/7/1989;
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không.
Nơi cư trú: thôn K, xã H, tỉnh Cao Bằng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không;
Đảng, Chính quyền, Đoàn thể: không.
Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 12/12.
Họ tên cha: Lê Hoàng T, sinh năm 1960 (đã chết).
Họ tên mẹ: Nông Thị T1, sinh năm 1964.
Anh, chị em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ con: chưa có.
Tiền án:
- Bản án số 99/2017/HSST ngày 26/12/2017, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng) xử phạt Quản 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1900 Quản chấp hành xong án phí ngày 12/3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2019, chấp hành xong bồi thường dân sự ngày 01/10/2019.
- Bản án số 24/2021/HSST ngày 21/7/2021, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- tỉnh Cao Bằng) xử phạt Q 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (thực hiện hành vi trộm cắp từ tháng 02/2021 đến 4/2021, các lần trị giá tài sản đều dưới 2.000.000 đồng).
- Bản án số 228/2022/HSST ngày 29/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- tỉnh Lâm Đồng) xử phạt Q 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (trộm cắp tài sản ngày 22/7/2022); Quản chấp hành xong án phí ngày 26/6/2023, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/8/2013, Q bị Chủ tịch UBND tỉnh C ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/8/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Anh Lữ Văn K, sinh năm 2005. (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn N, xã L, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường N, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Duy Q, sinh năm 1989, trú tại thôn K, xã H, tỉnh Cao Bằng có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, không có việc làm ổn định. Tháng 6/2024, Q đến sống lang thang tại các Khu công nghiệp trên địa bàn phường N, tỉnh Bắc Ninh để làm lao động tự do. Do không có tiền, Q nảy sinh ý định đi đến công các Công ty trong Khu công nghiệp tìm ai để tài sản sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền. Khoảng 10 giờ ngày 05/7/2025, Q đi đến cổng Công ty T2, phát hiện ở sườn đường, cách cổng Công ty khoảng 200m có để nhiều x mô tô của người đến phỏng vấn xin việc làm, nhưng không có người trông coi nên đi đến tìm cách trộm căp. Quản, kiểm tra thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biểm kiểm soát 11AM-015.72 số khung: RLHJA39RY628845, số máy: RA70E0351718 là tài sản của anh Lữ Văn K, sinh năm 2005, trú tại thôn N, xã L, tỉnh Cao Bằng chỉ tắt khóa điện, không khóa cổ, không khóa càng. Lập tức Q dùng hai tay lén lút dắt trộm xe mô tô của anh K bỏ đi. Quản dắt xe mô tô trộm cắp của anh K đến gần quán sửa xe “L" của anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1982, ở số A, đường N, phường N, tỉnh Bắc Ninh thì dừng xe lại. Quản dựng xe mô tô ở rìa đường, đi vào trong quán mượn anh N 01 cờ lê rồi đi ra tháo biển số xe trộm cắp của anh K cất giấu vào trong cốp xe. Tiếp đó, Q dắt xe trộm cắp đến quán S, đồng thời nói dối anh N xe mô tô là tài sản của Q nhưng bị rơi mất chìa khóa, rồi nhờ anh Nhật Đ nối điện trực tiếp giúp Quản đề nổ máy. Anh Nhật đấu nối dây điện xe mô tô xong thì Q nổ máy, điều khiển xe mô tô trộm cắp bỏ đi. Trên đường đi, Quản vứt biển kiểm soát xe mô tô trộm cắp đi, không nhớ chỗ vứt rồi sử dụng xe làm phương tiện đi lại và tìm cách bán.
Ngày 07/7/2025, anh Lữ Văn K làm đơn trình báo Đồn Công an Q1, tỉnh Bắc Ninh về việc bị mất trộm xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 11AM-015.72 khi để tại khu vực cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn L vào ngày 05/7/2025 như nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 274 ngày 01/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 11AM-015.72 của anh K bị trộm cắp ngày 05/7/2025 có trị giá 13.500.000 đồng.
Cùng ngày 07/7/2025, thấy hành vi trộm cắp xe mô tô đã bị phát hiện nên Lê Duy Q đến Đồn Công an Q1 đầu thú và giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, số khung: RLHJA39RY628845, số máy: RA70E0351718, không gắn biển kiểm soát. Đồn Công an Q1, tiến hành kiểm tra việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với Q bằng qua que test, kết quả: Quản dương tính với chất ma túy MOR. Sau đó, Đồn Công an Q1 đã bàn giao vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, bị cáo Lê Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra không thu giữ được biển kiểm soát xe mô tô để trả lại bị hại. Xe mô tô thu giữ là tài sản của anh K nên Cơ quan điều tra đã trả lại anh K.
Về trách nhiệm dân sự: Anh K không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS-KV2 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- B đã truy tố bị cáo Lê Duy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thân của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm g, khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Duy Q từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắm tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 05/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Lê Duy Q nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội, mong hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội trở về cuộc sống lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công tỉnh Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại có đưn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt họ này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2]Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 05/7/2025, tại đoạn đường ở cạnh cổng Công ty trách nhiệm hữu hạn L, thuộc Khu công nghiệp Q, phường N, tỉnh Bắc Ninh; lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong quản lý tài sản, Q đã lén lút trộm cắp được 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, biển kiểm soát 11AM-015.72, trị giá 13.500.000 đồng là tài sản của anh Lữ Văn K, sinh năm 2005, trú tại thôn N, xã L, tỉnh Cao Bằng. Ngày 07/7/2025, thấy hành vi phạm tội bị phát hiện, Q đến Công an đầu thú và giao nộp lại xe mô tô trộm cắp để trả lại anh K.
Bản thân bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó thể hiện các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo đã lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mục đích trộm cắp là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi này không chỉ gây ảnh hưởng đến một cá nhân mà còn tác động đến cộng đồng, làm ảnh hưởng đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án kết án nhiều lần, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
[5] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện sửa chữa giao nộp lại tài sản trộm cắp, bị cáo đầu thú. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đối chiếu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử nhận định như sau: Bị cáo Lê Duy Q lén lút lợi dụng sở hở để trộm cắp tài sản của anh Lữ Văn K, tổng tài sản trị giá 13.500.000 đồng. Lê Duy Q là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã bị Tòa án kết án nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học mà tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật và có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Các vấn đề khác:
- - Đối với người bán ma túy cho Q, Q không biết họ tên, địa chỉ. Do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh, xử lý người đã bán ma túy cho Lê Duy Q.
- - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Q, bị cáo là người nghiện ma túy không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Duy Q là đúng quy định.
- - Đối với anh Nguyễn Văn N không biết xe mô tô Quản nhờ đấu điện để nổ máy là tài sản chiếm đoạt của người khác nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Nguyễn Văn N là có căn cứ.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
[11] Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo Lê Duy Q 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
-
Về hình phạt và tội danh:
Xử phạt bị cáo Lê Duy Q 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 05 tháng 8 năm 2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Duy Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Lê Duy Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Hoa |
6
Bản án số 168/2025/HSST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 168/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Duy Quản
