Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG


Bản án số: 168/2025/HNGĐ-ST
Ngày : 30 – 12 -2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ngô Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Móm Em
Nguyễn Thị Ngọc Trâm

- Thư ký phiên tòa:Phan Thị Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long không tham gia phiên toà.

Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Cẩm G – sinh ngày: 04/6/2003 (vắng mặt, có đơn xin vắng).
    Địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S - sinh ngày: 08/11/1995 (vắng mặt).
    Địa chỉ: ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Đặng Thị Cẩm G có đơn xin vắng mặt nhưng tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 8 năm 2025 chị Đặng Thị Cẩm G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S do quen biết và đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới năm 2022, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Q, tỉnh Vĩnh Long).

Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S không quan tâm, lo lắng cho chị dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm. Vào tháng 4/2024, anh S yêu cầu chị về nhà cha mẹ ruột của chị. Chị và anh S không còn sống chung với nhau từ thời gian đó cho đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 06/4/2023, hiện nay cháu P đang sống chung với anh S. Sau khi ly hôn, chị đồng ý giao cháu P cho anh S nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn S: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh S vắng mặt, không nêu ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa hôm nay, đương sự khẳng định không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị Cẩm G có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 - Vĩnh Long giải quyết việc ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị G và anh S. Anh S có nơi cư trú tại ấp Q, xã Q, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 3, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long.

Nguyên đơn chị Đặng Thị Cẩm G có đơn xin vắng mặt không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa sơ thẩm nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị G. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh S vắng mặt, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng anh S cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh S.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh S hôn nhân hình thành do quen biết, có đăng ký kết hôn đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (nay là xã Q, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 11/01/2023 nên quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh S là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, chị G trình bày vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S không quan tâm, lo lắng cho chị G dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm. Vào tháng 4/2024, anh S yêu cầu chị G về nhà cha mẹ ruột của chị G. Chị G và anh S đã không còn sống chung với nhau từ thời gian đó cho đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị G và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị G yêu cầu ly hôn với anh S, anh S vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị G.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia P, sinh ngày 06/4/2023, hiện nay cháu P đang sống chung với anh S. Sau khi ly hôn, chị G đồng ý giao cháu P cho anh S nuôi dưỡng, chị G không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị G và anh S không còn chung sống với nhau cho đến nay thì cháu P sống chung với anh S, chị G đồng ý giao cháu P cho anh S nuôi dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị G nên giao cháu P cho anh S chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh S vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh S vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị G phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 3, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Cẩm G.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Cẩm G được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia P, sinh ngày 06/4/2023 cho anh Nguyễn Văn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Đặng Thị Cẩm G không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  3. Về tài sản chung: Chị Đặng Thị Cẩm G không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Văn S vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung phải thu, phải trả: Chị Đặng Thị Cẩm G không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Nguyễn Văn S vắng mặt không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Cẩm G phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005062 ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị Đặng Thị Cẩm G đã nộp đủ không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 4 – Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã Quới An;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)



Ngô Thị Quyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Hồng Trần Thị Thu H Ngô Thị Q
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 168/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 168/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger